Đặt vấn đề − Lý do chọn đề tài − Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu − Đối tượng và phạm vi nghiên cứu − Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu − Ý nghĩa và đóng góp của đề tài − Cấu trúc của đề tài + Chương 2: Cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm, chương 2 bao gồm các nội dung chính như sau: − Trình bày định nghĩa về hệ số NIM, nguồn gốc và sự phát triển của hệ số NIM. − Tìm hiểu và tổng quan lại các nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài, tóm tắt kết quả của các nghiên cứu này để đưa ra kỳ vọng về tác động của các biến độc lập lên biến phụ thuộc (NIM) trong mô hình định lượng. 6 − Nhận xét và kỳ vọng của tác giả về chiều hướng tác động của các yếu tố lên hệ số NIM. + Chương 3: Phương pháp nghiên cứu, chương 3 trình bày: − Dữ liệu nghiên cứu bao gồm báo cáo tài chính, báo cáo thường niên, tính chất sở hữu… của các NHTM trong mẫu nghiên cứu.
− Mô hình nghiên cứu và các giả thiết, kiểm định. + Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận: Trình bày kết quả hồi quy đạt được, kiểm định kết quả, phân tích kết quả và giải thích ý nghĩa. + Chương 5: Kết luận và gợi ý, kiến nghị: Kết luận các kết quả chính tìm thấy ở bài nghiên cứu, trình bày những khuyến nghị, hạn chế và đề xuất các hướng nghiên cứu mới trong tương lai. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM 2.
Khái niệm tỷ suất thu nhập lãi thuần của NHTM (hệ số NIM) Theo nhiều nghiên cứu trước đây của Mendes và Abreu (2003), Ben Naceur (2003), Kosmidou và cộng sự (2005), Sehrish và cộng sự (2011), Cruz và Guevara (2020), tỷ suất thu nhập lãi thuần của ngân hàng (Net Interest Margin – NIM) của ngân hàng thương mại (NHTM) được định nghĩa là tỷ số giữa chênh lệch thu nhập từ lãi và chi phí lãi chia cho tổng tài sản có khả năng sinh lợi của NHTM. Hệ số NIM thường được đo lường trong một khoảng thời gian nhất định chằng hạn như hàng quý, bán niên hay hàng năm do có tử số là giá trị thu nhập tích luỹ theo thời gian và có đơn vị là phần trăm (%). Đặc điểm của hệ số NIM: + Hệ số NIM là thước đo chênh lệch giữa thu nhập lãi do NHTM tạo ra và số tiền lãi mà NHTM phải trả cho người gửi tiền trên tổng tài sản sinh lợi của NHTM. Đối với NHTM, hệ số NIM có tính chất tương tự như tỷ suất lợi nhuận gộp của các công ty thông thường không phải các định chế tài chính – ngân hàng (Sehrish và cộng sự, 2011).
+ Hệ số NIM tập trung vào lợi nhuận thu được từ các hoạt động sinh lãi (Berger, 1995; Barajas và cộng sự, 1999; Naceur và Goaied, 2001; Sehrish và cộng sự, 2011). Theo Mendes và Abreu (2003), Ben Naceur (2003), Kosmidou và cộng sự (2005), William (2007), Sehrish và cộng sự (2011), Cruz và Guevara (2020)… công thức tính toán hệ số NIM như sau: Thu nhập lãi − chi phí lãi NIM = (2.1) Tổng tài sản sinh lợi bình quân Nguồn: tổng hợp của tác giả từ các nghiên cứu trước đây Ý nghĩa của hệ số NIM: + Tỷ suất thu nhập lãi thuần là thước đo hiệu quả khả năng sinh lời trên một đơn vị tài sản của ngân hàng. Hệ số NIM cho chúng ta thấy năng lực của 8 ngân hàng trong việc chuyển hoá nguồn lực huy động được thành tài sản sinh lợi, thể hiện sự tăng trưởng của thu nhập so với sự gia tăng chi phí huy động vốn bỏ ra. + Thông qua hệ số NIM, NHTM có thể kiểm soát và đánh khả năng sinh lợi của tài sản so với chi phí sử dụng vốn, rà soát và đánh giá chi phí huy động vốn của từng nguồn huy động, giúp hội đồng quản trị, ban điều hành các NTHM tạo lập chiến lược huy động vốn, cho vay tối ưu, từ đó tối đa hoá lợi nhuận cho ngân hàng.
Các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số NIM của NHTM 2. Các yếu tố nội tại của ngân hàng 2. Quy mô ngân hàng Trong các nghiên cứu trước đây, quy mô ngân hàng đã được chứng minh là yếu tố tác động trọng yếu đến hệ số NIM. Thước đo quy mô NHTM được Ben Naceur (2003), Kosmidou và cộng sự (2005), Kosmidou (2008), Sehrish và cộng sự (2011), Cruz và Guevara (2020) sử dụng là tổng tài sản của NHTM đó.
Trong quá trình hoạt động, tổng tài sản của NHTM đa phần là các khoản cho vay đối với khách hàng và đối ứng với nó là các khoản tiền gửi của cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế. Tổng tài sản của NHTM càng lớn cho thấy thị phần cho vay của NHTM càng cao và khả năng huy động vốn của NHTM đó trong nền kinh tế càng tốt. Theo Kosmidou và cộng sự (2005), “NHTM có quy mô càng lớn thì có khả năng phát huy lợi thế kinh doanh theo quy mô do thực hiện đa dạng hoá sản phẩm kinh doanh, từ đó NHTM có khả năng tiếp cận các phân khúc thị trường mà các NHTM có quy mô nhỏ không thể xâm nhập”. Sehrish và cộng sự (2011) cũng cho rằng “thực tế các NHTM có quy mô lớn có vị thế tốt hơn so với các ngân hàng nhỏ trong việc khai thác lợi thế kinh doanh từ quy mô trong các giao dịch với xu hướng và mục đích có được mức lợi nhuận cao hơn”.
Trên thực tế, một số nghiên cứu đã tìm thấy lợi thế kinh doanh theo quy mô của các NHTM trong khi một vài nghiên cứu khác lại cho thấy các NHTM có quy mô nhỏ thường mang lại lợi thế hơn trong hoạt động kinh doanh. McShane và Sharpe (1995), Maudos và Guevara (2004), William (2007) cho rằng quy mô ngân hàng hình 9 thành nên sức mạnh thị trường trong việc thiết lập biên lãi suất ngân hàng và đã được chứng minh trên cả phương diện lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm. William (2007) sử dụng phần trăm tài sản của NHTM trên tổng tài sản của các NHTM tại Úc để lượng hoá vị thế của NHTM trên thị trường. Vốn chủ sở hữu Cũng giống như một doanh nghiệp, Vốn chủ sở hữu của NHTM là nguồn vốn do các chủ NHTM và các thành viên trong ngân hàng liên doanh hoặc các cổ đông trong NHTM cổ phần đưa vào để phục vụ cho hoạt động của ngân hàng.
Theo điều 66 thông tư 200/2014/TT-BTC về hướng dẫn chế độ kế toán cho doanh nghiệp thì Vốn chủ sở hữu là phần tài sản thuần của doanh nghiệp còn lại thuộc sở hữu của các cổ đông, thành viên góp vốn (chủ sở hữu). Vốn chủ sở hữu được phản ánh theo từng nguồn hình thành như: + Vốn góp của chủ sở hữu; + Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh; + Chênh lệch đánh giá lại tài sản. Theo quy định tại thông tư 49/2014/TT-NHNN ngày 31/12/2014 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều khoản của chế độ báo cáo tài chính đối với các tổ chức tín dụng (TCTD), vốn chủ sở hữu của TCTD bao gồm các khoản mục: + Phát hành cổ phiếu: chi phí phát sinh, thặng dư cổ phần (nếu có). + Cổ tức trả trên cổ phiếu thường + Cổ phiếu quỹ + Trích lập và sử dụng các quỹ từ lợi nhuận sau thuế.
Như vậy, Vốn chủ sở hữu là nguồn vốn riêng và luôn luôn sẵn sàng đưa vào hoạt động kinh doanh của NHTM, là tấm đệm cuối cùng của NHTM chống lại rủi ro mất thanh khoản (Kosmidou và cộng sự, 2005). Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản là chỉ số cơ bản thể hiện sức mạnh vốn của NHTM (Golin, 2001). Cũng theo Kosmidou và cộng sự (2005), “tỷ lệ vốn chủ sở hữu càng cao thì càng cho thấy NHTM có sức mạnh nội tại tốt, ít phụ thuộc vào các nguồn vốn huy động bên ngoài 10 có tính ổn định thấp hơn, giúp NHTM có khả năng chống chịu với những giai đoạn khó khăn trong kinh doanh và tăng năng lực tự giải quyết rủi ro, do đó khả năng sinh lời càng cao”. Maudos và Guevara (2004) cho rằng, NHTM càng ngại rủi ro thì càng có xu hướng sử dụng vốn chủ sở hữu nhiều hơn và yêu cầu tỷ suất sinh lợi cao hơn.
Sehrish và cộng sự (2011) cho rằng các ngân hàng có tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản cao hơn tạo ra mức sinh lời cao hơn vì khi có nhiều vốn hơn, NHTM có thể dễ dàng tuân thủ các tiêu chuẩn quy định về vốn để có thể cung cấp vốn cho nền kinh tế dưới hình thức là các khoản vay. Trong nghiên cứu, vốn chủ sở hữu là dữ liệu được Ben Naceur (2003); Maudos và Guevara (2004); Sehrish và cộng sự (2011); Cruz và Guevara (2020) sử dụng để đo lường mức ngại rủi ro của NHTM, và được tính toán bằng tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu và tổng tài sản của NHTM. Tổng dư nợ cho vay và dự phòng rủi ro Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12, ngày 16/06/2010, được sửa đổi bổ sung một số điều tại luật số 17/2017/QH14 ngày 20/11/2017 (luật các TCTD), cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Như vậy, dư nợ cho vay là giá trị tiền mà NHTM giao hoặc cam kết giao cho bên đi vay sử dụng trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi cho một mục đích xác định và trong một khoảng thời gian xác định.
Dư nợ cho vay là cơ sở để NHTM xác định lãi vay và thu lãi, là nguồn thu chính của các NHTM.