Chương 1: Cơ sở khoa học về ảnh hưởng của biến động tăng giá đầu vào đến hiệu quả kinh tế sản xuất chè của hộ nông dân. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Phân tích thực trạng ảnh hưởng của tăng giá đầu vào đến hiệu quả kinh tế sản xuất chè của các hộ nông dân trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Chương 4: Giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè của các nông hộ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong điều kiện tăng giá đầu vào.
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỘNG TĂNG GIÁ ĐẦU VÀO TỚI HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT CHÈ CỦA CÁC HỘ NÔNG DÂN 1.1 Cơ sở lý luận về giá, biến động giá và hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè của hộ nông dân 1.1 Đặc điểm kỹ thuật và kinh tế của cây chè 1.1 Đặc điểm sinh vật học Theo Willson, K.C (1992), Cây chè có tên khoa học là Cmaellia sinesis, là loài cây mà lá và chồi của chúng được sử dụng để sản xuất chè. Chè là loại cây xanh lâu năm được mọc thành bụi hoặc các cây nhỏ, thông thường được xén tỉa thấp hơn 2m khi được trồng để lấy lá. Lá chè có chiều dài từ 4 - 15cm, lá non có màu xanh lục nhạt, lá già có màu lục sẫm. Các độ tuổi khác nhau của lá chè tạo ra các sản phẩm chè khác nhau về chất lượng do thành phần hóa học trong các lá này là khác nhau.
Thông thường, chỉ có lá chồi và 2 đến 3 lá mọc gần thời gian đó được thu hoạch để chế biến. Việc thu hoạch thủ công bằng tay diễn ra đều đặn sau khoảng 1 đến 2 tuần. * Các thời kỳ sinh trưởng, phát triển của cây chè Cây chè là cây lâu năm tính từ khi gieo trồng phải mất thời gian từ 3 đến 5 năm kiến thiết cơ bản. Sau thời kỳ kiến thiết cơ bản cây chè mới cho kinh doanh.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất chè * Các nhân tố về điều kiện tự nhiên - Đất đai và địa hình: Muốn chè có chất lượng cao và hương vị đặc biệt cần phải trồng chè ở độ cao nhất định.
Đa số những nơi trồng chè trên thế giới thường có độ cao cách mặt nước biển từ 500-800m. So với một số cây trồng khác, cây chè yêu cầu về đất không nghiêm ngặt, nhưng để sinh trưởng tốt, có tiềm năng năng suất cao thì đất trồng chè phải đạt yêu cầu đất tốt, có nhiều mùn, có độ sâu, chua và thoát nước. - Thời tiết, khí hậu: Cây chè sinh trưởng và phát triển tốt nhất trong điều kiện nhiệt độ từ 15 – 23 độ C. Mùa đông cây chè tạm ngừng sinh trưởng, mùa xuân cây chè sinh trưởng trở lại.
Do cây chè là cây thu hoạch lấy núp non và lá 20 non nên cây ưa ẩm, cần nhiều nước. Cây chè yêu cầu độ ẩm cao trong suốt thời kỳ sinh trưởng là khoảng 85 %. Ở nước ta, các vùng trồng chè có điều kiện thích hợp nhất cho cây chè phát triển cho năng suất và chất lượng cao vào các tháng 5, 6, 7, 8, 9 và 10. * Nhóm nhân tố về kỹ thuật - Giống chè: Giống chè ảnh hưởng tới năng suất búp, chất lượng nguyên liệu do đó cũng ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm chè, đến hiệu quả kinh doanh và cạnh tranh trên thị trường.
- Kỹ thuật chăm sóc gồm tưới nước cho chè, đốn chè, bón phân. Bón phân là biện pháp kỹ thuật quan trọng nhằm tăng năng suất và chất lượng chè. Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước cho thấy hiệu quả của bón phân cho chè chiếm từ 50 – 60%. Trong các loại phân bón cho chè thì đạm có vai trò hàng đầu, sau đó đến lân và kali.
Do vậy, khi giá phân bón tăng cao có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất chè của các hộ. - Kỹ thuật thu hái và bảo quản: Nguyên liệu chè sau khi thu hái có thể đưa thẳng vào chế biến, có thể để một thời gian nhưng không quá 10 giờ, do vậy khi thu hái không để dập nát búp chè. - Kỹ thuật chế biến.3 Đặc điểm của thị trường tiêu thụ sản phẩm chè - Tính ổn định và tính ít co dãn về mặt cung cầu: Trong thị trường tiêu thụ chè, quan hệ cung cầu thay đổi chậm, độ co dãn của cung cầu thấp hơn các sản phẩm khác. Vì sản phẩm chè là đồ uống hàng ngày nhưng không phải là mặt hàng thiết yếu như các loại lương thực, thực phẩm khác.
Khi có sự biến động về giá thì cung - cầu thay đổi chậm, không vì sản phẩm chè trên thị trường nhiều và rẻ mà người tiêu dùng cần nhiều sản phẩm hơn. Khối lượng sản phẩm chè đưa ra thị trường tuy có thay đổi nhưng không thể có biến đổi lớn trong một thời gian nhất định. Không phải vì có nhu cầu tiêu dùng lớn, giá cao mà người sản xuất có thể cung ngay một khối lượng lớn cho thị trường do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp cần phải có thời gian sản xuất nhất định. Do vậy, muốn ổn định và mở rộng thị trường tiêu thụ chè cần nghiên cứu được nhu cầu thị trường để đẩy mạnh sản xuất, tăng cung đáp ứng cầu một cách chủ động.
21 - Thị trường tiêu thụ chè gắn với tính thời vụ: Do đặc điểm này mà người trồng chè không chỉ phải đối phó với sự tác động của điều kiện tự nhiên mà còn phải đối phó với những vấn đề khách quan khác xuất phát từ thị trường. Muốn hạn chế sự biến động của thị trường chè theo thời vụ người sản xuất cần cải tiến công nghệ chế biến, bảo quản, dự trữ để điều hòa cung cầu. Nhà nước cũng cần có những chính sách hỗ trợ cho người trồng chè để có thể sản xuất chè vụ đông như tưới nước cho chè vụ đông, chế biến sản phẩm vào những tháng chính vụ. - Thị trường tiêu thụ chè gắn liền với việc khai thác và sử dụng lợi thế so sánh các điều kiện tự nhiên và những điều kiện sản xuất khác: chè là cây trồng chỉ có thể sinh trưởng, phát triển và cho sản phẩm kinh tế trong những điều kiện tự nhiên nhất định.
Chính vì vậy, thị trường chè hình thành nguồn cung theo luồng, tuyến hay khu vực và có thể phát sinh hiện tượng cạnh tranh không hoàn hảo, trong khi đó bất kỳ người sản xuất nào cũng muốn đưa ra thị trường sản phẩm chè mà mình có ưu thế nhất. Điều này đòi hỏi người sản xuất phải biết tận dụng đất đai, thời tiết, khí hậu, lao động cũng như phải biết ứng dụng những thành tựu mới nhất của khoa học kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất để nâng cao năng suất, hạ giá thành sản phẩm để tạo lợi thế trong cạnh tranh.2 Kinh tế hộ nông dân sản xuất chè 1.1 Khái niệm về hộ nông dân và kinh tế hộ nông dân Trong một số từ điển ngôn ngữ học cũng như một số từ điển chuyên ngành kinh tế, người ta định nghĩa về “hộ” như sau: “Hộ” là tất cả những người sống chung trong một ngôi nhà và nhóm người đó có cùng chung huyết tộc và người làm công, người cùng ăn chung. Thống kê Liên Hợp Quốc cũng có khái niệm về “Hộ” gồm những người sống chung dưới một ngôi nhà, cùng ăn chung, làm chung và cùng có chung một ngân quỹ. Giáo sư Mc Gê (1989) - Đại học tổng hợp Colombia (Canada) cho rằng: “Hộ” là một nhóm người có cùng chung huyết tộc hoặc không cùng chung huyết tộc ở trong một mái nhà và ăn chung một mâm cơm.
Nhóm “hệ thống thế giới” gồm các đại biểu Wallerstan (1982), Wood (1982), Smith (1985), Martin và BellHel (1987) cho rằng: “Hộ là một nhóm người có cùng chung sở hữu, chung quyền lợi trong cùng một hoàn cảnh. Hộ là một đơn vị kinh tế giống như các công ty, xí nghiệp khác”. 22 Theo lý thuyết về hệ thống nông nghiệp (FAO, 1999), hộ nông dân là đơn vị cơ bản cho các phân tích KTXH, là hệ thống sản xuất có cấu trúc phức hợp, quan hệ chặt chẽ với các hệ thống khác ở mức độ cao hơn.1 Hộ nông dân trong mối quan hệ với các hệ thống sản xuất (Nguồn: FAO (1999), Guisdelines for Agrarian Systems Diagnosis, Rome) Theo Frank Ellis (1993) “Hộ nông dân là hộ có phương tiện kiếm sống dựa trên ruộng đất, chủ yếu sử dụng lao động gia đình vào sản xuất, luôn nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bởi sự tham gia từng phần vào thị trường với mức độ không hoàn hảo”. Theo ông các đặc trưng của đơn vị kinh tế để phân biệt gia đình nông dân với những người làm kinh tế khác trong một nền kinh tế thị trường là: Thứ nhất, đất đai: Người nông dân với ruộng đất chính là một yếu tố hơn hẳn các yếu tố sản xuất khác vì giá trị của nó; nó là nguồn đảm bảo lâu dài đời sống của gia đình nông dân trước những thiên tai.
Thứ hai, lao động: Sự tín nhiệm đối với lao động của gia đình là một đặc tính kinh tế nổi bật của người nông dân. Người “lao động gia đình” là cơ sở của các nông trại, là yếu tố phân biệt chúng với các xí nghiệp tư bản. Thứ ba, tiền vốn và sự tiêu dùng: Người ta cho rằng: “người nông dân làm công việc của gia đình chứ không phải làm công việc kinh doanh thuần túy” (Woly, 1966) nó khác với 23 đặc điểm chủ yếu của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là làm chủ vốn đầu tư vào tích lũy cũng như khái niệm hoàn vốn đầu tư dưới dạng lợi nhuận. Theo “Kinh tế hộ nông dân” của Đào Thế Tuấn (1995) thì Hộ nông dân là một nhóm người cùng chung huyết tộc, sống chung hay không sống chung với người khác huyết tộc trong cùng mái nhà, ăn chung và có cùng chung ngân quỹ.
Khái niệm này chưa hoàn toàn phản ánh chính xác về hộ nông dân. Tuy nhiên, Ông cũng xác định hộ nông dân là những hộ làm nông nghiệp mà ở đó họ vừa là người sản xuất, vừa là người tiêu thụ nông sản. Theo Nguyễn Văn Huân (1995) “Kinh tế hộ nông dân là một hình thức sản xuất đặc biệt, tồn tại trong mọi chế độ xã hội. Kinh tế hộ nông dân có những quy luật phát triển của nó, trong mọi chế độ nó luôn thích ứng với thực tế cuộc sống, cơ chế kinh tế hiện hành”.
Có nhiều quan niệm khác nhau về hộ nông dân và kinh tế hộ nông dân, qua tham khảo các tài liệu luận án đưa ra khái niệm về hộ và kinh tế hộ.