chương 1 Thông tin tài chính là một trong những nhân tố quan trọng trong việc phát triển kinh tế thị trường nói chung và kinh tế quản lý, sản xuất kinh doanh nói riêng. Trên thực tế, tình trạng quản trị lợi nhuận (EM) tại các DN ở Việt Nam đang diễn ra và có sự lan rộng khá rộng trong môi trường kinh doanh. Quản trị lợi nhuận gây ra nhiều hệ quả xấu tới không chỉ doanh nghiệp mà còn là toàn ngành kinh tế. Nó làm mất tính công khai và tính chính xác trong quản lý tài chính của DN, gây ra sự mất cân đối và làm suy yếu cơ sở hạ tầng kinh tế và hơn hết thao túng lợi nhuận cũng có thể gây ra rủi ro tài chính và pháp lý cho các DN.
Khi thực hiện các hành động vi phạm pháp luật trong việc thao túng lợi nhuận, các DN đối mặt với nguy cơ bị xử lý hình sự và kiện tụng từ phía các cơ quan chức năng và bên liên quan. Theo Dante và cộng sự (2023), khi đối mặt với sự bất ổn kinh tế vĩ mô lớn hơn, các công ty từ các nước phát triển (thị trường mới nổi) sẽ giảm (tăng) mức độ quản trị doanh nghiệp. Chính vì vậy, đề tài “Tác động của bất ổn vĩ mô tới quản trị lợi nhuận tại các Doanh nghiệp Việt Nam” được tiến hành nghiên cứu. Đề tài với mục tiêu xem xét bất ổn vĩ mô có tác động tới quản trị lợi nhuận doanh nghiệp hay không và nếu có thì tác động theo chiều hướng nào.
Để thực hiện mục tiêu đó, tác giả lựa chọn mẫu nghiên cứu gồm 42 DN phi tài chính có vốn hóa nhỏ hơn 10.000 tỷ đồng được công bố trên sản giao dịch chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn từ 2008 – 2021. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẤT ỔN VĨ MÔ, QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA BẤT ỔN VĨ MÔ TỚI HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN 2. Lý luận về bất ổn vĩ mô Bất ổn kinh tế được mô tả là sự bất ổn liên quan đến quy định của Chính phủ, chính sách tiền tệ và tài khóa làm thay đổi kết quả kinh tế và môi trường. Khi bất ổn tăng lên, các công ty sửa đổi và trì hoãn quyết định đầu tư của họ khiến nền kinh tế rơi vào trạng thái tăng trưởng chậm lại, thậm chí là suy thoái (Halkos và Tzeremes, 2013; Aastveit và cộng sự, 2017).
Khái niệm về bất ổn kinh tế vĩ mô chưa có sự thống nhất hoàn toàn giữa các nghiên cứu. Theo Gavin và cộng sự (1996), ổn định kinh tế vĩ mô đòi hỏi phải đảm bảo ba yếu tố trong nền kinh tế là tăng trưởng, đầu tư và năng suất lao động. Mặt khác, Fisher (1993), Bleaney (1996) và Ismihan và cộng sự (2003) lập luận rằng sự gia tăng bất ổn kinh tế vĩ mô kéo theo sự gia tăng của một trong những chỉ số hàng đầu như lạm phát, tỷ lệ thâm hụt (GNP) và tỷ lệ nợ nước ngoài (GDP). Sameti và cộng sự (2012) cũng chỉ ra rằng bất ổn kinh tế vĩ mô được đánh giá bởi sự dao động trong một tập hợp các biến số kinh tế vĩ mô bao gồm: tăng trưởng, lạm phát, thâm hụt tài khoản vãng lai tương lai, dự trữ ngoại hối và thâm hụt ngân sách.
Nhìn chung, có thể thấy bất ổn kinh tế vĩ mô là một khái niệm mô tả tình trạng xấu đi của các biến số kinh tế vĩ mô quan trọng trong một nền kinh tế, được thể hiện và theo dõi theo thời gian thông qua sự kết hợp của các biến số như tăng trưởng, lạm phát, thâm hụt tài khoản vãng lai, dự trữ ngoại hối, nợ nước ngoài và thâm hụt ngân sách. Raddatz (2007), Svensson và Razin (1983), Cardarelli và cộng sự (2009) cho rằng, bên cạnh các chính sách kinh tế (chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa) chưa phù hợp, các cú sốc bên ngoài chính là nguồn gốc gây ra bất ổn kinh tế vĩ mô trong nước. Theo đó, tác giả cho rằng cú sốc ngoại thương (xuất nhập khẩu) và biến động của dòng vốn vào là căn nguyên của bất ổn kinh tế vĩ mô. Hơn nữa, theo Clipa và Caraganciu (2009), trong bối cảnh nền kinh tế mở nói chung, đặc biệt là các nền 6 kinh tế đang phát triển, tác động của khủng hoảng thế giới có thể lan truyền qua các kênh tài chính, ngoại thương và đầu tư.
Bất ổn kinh tế vĩ mô Các cú sốc vĩ mô và sự thiếu nhất Các cú sốc bên ngoài quán trong chính sách vĩ mô Chính sách Biến Khủng Chính sách Cú sốc tiền tệ, tỷ động hoảng tài khoá về ngoại giá dòng kinh tế thương vốn vào thế giới Các tổn thương về kinh tế vĩ mô Khủng hoảng kinh tế Hình 2.1: Nguồn gốc và mối liên hệ của bất ổn kinh tế vĩ mô tới các chính sách kinh tế Nguồn: Cổng thông tin tài chính 2. Lý luận về quản trị lợi nhuận Ronen và Yaari (2008) cho rằng: “Quản trị lợi nhuận là hành vi của Ban giám đốc sử dụng việc ghi nhận trên cơ sở dồn tích thông qua một số tài khoản để làm thay đổi lợi nhuận sau thuế theo các mục tiêu công bố thông tin của họ”. Mặt khác, Schipper (1989) đã đưa ra khái niệm về việc quản trị lợi nhuận: “Quản trị lợi nhuận là một sự can thiệp có cân nhắc trong quá trình cung cấp thông tin tài chính nhằm đạt được những mục đích cá nhân”. Như vậy, quản trị lợi nhuận được hiểu là hành động làm thay đổi số liệu lợi nhuận thông qua công cụ kế toán trong quá trình cung cấp thông tin ra bên ngoài có chủ đích của nhà quản trị nhằm đạt mục tiêu lợi 7 nhuận.
Tuy nhiên, nó có thể diễn ra mà không cần phải thay đổi những quy tắc kế toán bằng cách sử dụng những tuỳ chọn trong chính sách kế toán. Hành động này có thể gây hiểu nhầm giữa những bên thamgia và buộc họ phải đưa ra quyết định trên cơ sở những báo cáo tài chính mà đáng ra họ phải làm theo cách khác. Từ đó có thể nói rằng quản trị lợi nhuận là một hành động có mục đích vì có những trường hợp mà nhà quản lí đã cố ý tháo bỏ những số liệu kế toán. Vì vậy, phải thận trọng khi các DN có hiện tượng thao túng lợi nhuận.
Vậy nguyên nhân do đâu dẫn tới việc thao túng lợi nhuận? Tại Việt Nam, Theo Hoàng Thị Hồng Vân (2021), kết quả nghiên cứu chỉ ra 4 lý do tiềm ẩn cho việc thao túng lợi nhuận ở Việt Nam: Một là, để tăng số tiền thù lao quản lý: Cùng với quan điểm trên Watts và Zimmerman (1990) cho rằng các nhà quản lý có động lực để thúc đẩy báo cáo lợi nhuận từ tương lai đến kỳ kế toán hiện hành khi một kế hoạch giải thưởng tồn tại dựa trên lợi nhuận và Healy (1985) tìm thấy bằng chứng về hành vi sử dụng các khoản dồn tích để tối đa hóa các khoản thưởng. Hai là, để báo cáo lợi nhuận hợp lý và tránh lỗ. Ba là, để vay ngân hàng, để có nhiều ưu thế hơn trong việc sử dụng các khoản vay ngân hàng, các nhà quản lý thường có xu hướng thao túng lợi nhuận theo hướng ghi nhận tăng lên hơn ghi nhận là giảm. Bốn là, để tăng giá cổ phiếu, Nguyễn Thị Phương Uyên (2014) và Phạm thi Bích Vân (2017) cũng cho rằng các công ty niêm yết có xu hướng quản trị tăng lợi nhuận trong những năm phát hành bổ sung cổ phiếu nhằm thu hút nhà đầu tư để đợt chào bán được thành công.
Phan Thị Thanh Trang (2015) cho rằng các công ty cổ phần có hành vi quản trị tăng lợi nhuận trong năm đầu niêm yết cao hơn năm trước và sau khi niêm yết. Năm là, tối đa hoá về thuế, theo Ball và Shivakumare (2005) xác định thuế là một trong những mục tiêu chính của báo cáo thường niên của các công ty tư nhân, Baralexis (2004) cho thấy các công ty nhỏ đang thực sự quan tâm nhiều hơn về tiết kiệm chi phí thuế trong quản trị lợi nhuận. 8 Ngoài ra, theo Burgstahler và cộng sự (2006), hành vi quản trị lợi nhuận tăng khi đáp ứng những kỳ vọng của các nhà phân tích và những dự báo trong quản lý. Philippon và Bergstresser (2006) cho thấy để gia tăng tài sản cá nhân thông qua các quyền chọn mua cổ phiếu, nhà quản trị luôn có xu hướng QTLN theo hướng tăng lên.
Quản lý thu nhập có thể có nhiều hình thức khác nhau bao gồm quản lý thu nhập dồn tích, quản lý thu nhập thực tế, điều chỉnh thu nhập, chuyển thu nhập và các kỹ thuật nâng cao khác. Các nhà quản lý đánh đổi giữa các hoạt động này dựa trên chi phí của chúng 2. Quản trị lợi nhuận dồn tích (AM) Quản trị lợi nhuận dồn tích (AM) là phương thức mà nhà quản lý sử dụng các chính sách kế toán được cho phép bởi các nguyên tắc kế để tác động đến lợi nhuận. AM tạo ra dồn tích đảo ngược sau giai đoạn thao tác.
Tăng lợi nhuận vào thời điểm này thì giảm lợi nhuận vào ký sau và ngược lại. Dòng tiền của công ty sẽ không bị ảnh hưởng vởi việc quản trị lợi nhuận dồn tích. Lợi nhuận tích lũy có thể được hình thành từ lợi nhuận dồn tích không thể điều chỉnh và lợi nhuận dồn tích có thể điều chỉnh. Các khoản dồn tích không thể điều chỉnh là các khoản dồn tích được xác định bởi các điều kiện kinh tế bình thường của công ty (Xiong, 2006).
Các khoản tích lũy điều chỉnh là các khoản tích lũy không được quy định trong hợp đồng và là chính sách lựa chọn của người quản lý. Quản trị lợi nhuận thực tế (REM) REM – Quản trị lợi nhuận thực tế, là một phương pháp mà các nhà quản lý sử dụng để can thiệp vào cấu trúc các hoạt động kinh tế của công ty, nhằm tác động đến mức lợi nhuận. Ví dụ, một cách thức thực hiện REM có thể là áp dụng các chương trình khuyến mại đặc biệt để tăng doanh thu trong thời gian gần ngày kết thúc niên độ. Quản trị lợi nhuận thực tế được coi là một hình thức sai lệch so với hoạt động bình thường của công ty, mà những hoạt động này được các nhà quản lý thực hiện nhằm đánh lừa các bên liên quan rằng các mục tiêu báo cáo đã được hoàn thành trong hoạt động bình thường (Roychowdhury, 2006).
REM có những ưu điểm so với việc tập trung vào việc quản trị lợi nhuận tích lũy, vì nó không dễ bị phát hiện bởi các cơ quan quản lý hoặc kiểm toán viên và cũng dễ dàng đạt được mục 9 tiêu lợi nhuận mong muốn.