Chương 1 giới thiệu về lý do nghiên cứu, phạm vi, đối tượng nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu cũng như phương pháo nghiên cứu và đóng góp của nghiên cứu. Thông qua chương này, người đọc sẽ hình dung tổng quát về đề tài được nghiên cứu. Nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm 6 Chương 2 giải thích khái niệm, cách đo lường cấu trúc vốn mục tiêu, đo lường sự mất cân đối DT và giới thiệu một số lý thuyết liên quan mất cân đối DT và cấu trúc vốn của các DN ngành thương mại tại Việt Nam. Chương này cũng khảo lược các nghiên cứu tiền nhiệm về tác động của mất cân đối DT đến cấu trúc vốn mục tiêu, yếu tố tác động đến cấu trúc vốn mục tiêu cũng như tốc độ điều chỉnh đến cấu trúc vốn mục tiêu.
Phương pháp nghiên cứu Chương 3 trình bày mô hình nghiên cứu, giải thích cách đo lường các biến và nêu ra các giả thuyết nghiên cứu. Ngoài ra chương này cũng trình bày nguồn dữ liệu và phương pháp ước lượng mô hình nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 4 đưa ra kết quả đạt được khi triển khai chạy mô hình, qua đó nêu được ý nghĩa về mối tương quan giữa các biến nhận được từ kết quả đó. Kiểm định một lần nữa tính đúng đắn của mô hình triển khai để củng cố hoặc bác bỏ kết quả nhận được.
Kết luận và khuyến nghị Chương 5 là kết luận của việc kiểm tra thực nghiệm các yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi ĐBTC của các công ty thương mại niêm yết ở Việt Nam. Tính ra được tốc độ điều chỉnh đối với đòn bẩy mục tiêu cho các công ty thương mại niêm yết tại Việt Nam, DT đã ảnh hưởng đến mức điều chỉnh như thế nào. Ngoài ra, chương 5 cũng trình bày hạn chế của nghiên cứu này và những ý tưởng khai thác tiếp theo liên quan đến chủ đề này. 7 CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM 2.
Các khái niệm cơ bản 2. Khái niệm sự mất cân đối dòng tiền a. Khái niệm dòng tiền: DT còn gọi là lưu chuyển tiền tệ được định nghĩa là sự chuyển động ra hoặc vào của các khoản tiền trong DN, dự án hay là một sản phẩm tài chính trong khoảng thời gian hữu hạn. Việc lưu chuyển DT sẽ liên quan đến việc lưu chuyển DT ròng, DT thuần và DT thông minh.
Mất cân đối DT là mất cân đối về tiền ra vào DN (Zhang et al. DT có ảnh hưởng to lớn tới các quyết định về kinh tế của DN. Các quyết định đầu tư được đưa ra qua việc nghiên cứu DT trong tương lai. DT còn thể hiện khả năng thanh toán của DN.
Nhà kinh tế học Keynes (1937) nêu ra tính năng kinh tế đặc biệt của tiền đó chính là “tính thanh khoản”. Dễ dàng nhận thấy tiền là tài sản có tính thanh khoản cao nhất của DN. Nhưng trong bối cảnh nhiều cạnh tranh và chi phí cơ hội ngày càng cao dẫn đến việc duy trì tính thanh khoản thường xuyên gây bất lợi cho DN. Tuy vậy, DN có thể tránh khỏi những tác động bất lợi cũng như những “cú sốc” về DT nhờ tính thanh khoản này (Keynes, 1937).
Khái niệm về DT có thể được tìm hiểu qua DT vào, DT ra và DT ròng. DT ròng được tính bằng tổng số tiền vào trong bất kỳ loại trừ số tiền bỏ ra trong tương ứng. Khác với chỉ tiêu lợi nhuận đạt được trong kỳ tính theo phương pháp tổng hợp. DT vào được ghi nhận khi nó thực sự được nhận vào bởi công ty, tuy nhiên chưa thể chắn chắn rằng đó là khoản thu nhập của DN (Collings, 2016).
Ngược lại, DT ra được ghi nhận khi khoản tiền được chi ra nhưng đó có thể không phải là chi phí của công ty. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ mô tả biến động với ba hoạt động chính trong một DN thông thường: hoạt động kinh doanh, tài chính và đầu tư. Như vậy, theo cơ sở kế toán tiền thực tế phát sinh (tiền mặt cơ bản) DT của hoạt động kinh doanh chỉ là tiêu chí có thể mang lại lợi nhuận cho hoạt động trong kỳ (Nour, Nour and Shokeira, 2012). 8 Lợi nhuận Cổ đông Khoản phải thu Chi phí Nguồn vay Thuế TIỀN [Gr Chứng khoản ab your Cổ tức reader’s attention Lãi with a Chi phí Nhà xưởng, hoạt động great quote thiết bị from the Khấu hao document Giá vốn or use this hàng bán space to Hàng tồn kho và chi phí sản xuất emphasize a key Nguồn: Nour, Nour và Shokeira (2012) point.
Lưu chuyển dòng tiền place this Cần nằm bắt đầy đủ các khoản mục tại báo cáo kết quả kinh doanh của một tổ text box chức để có cái nhìn toàn diện về lưu chuyển tiền tệ. Ví dụ, những khoản mục như: anywhere khấu on hao được the tính vào chi phí và trực tiếp tác động tới LNST. Tuy vậy, các khoản mục này không page, just ảnh hưởng trực tiếp đến DT (Kusuma, 2014). Bên cạnh đó, các khoản trảdrag trước it.]như bảo hiểm, thanh toán cho bên cung cấp, hợp đồng dịch vụ bảo trì hoặc tu sửa; được trả trước bằng tiền.
Các khoản này có tác động đến DT, nhưng không ảnh hưởng đến mức lợi nhuận của công ty trong kỳ. DT ghi nhận trên BCLCTT được trình bày là các khoản thu, chi bằng tiền từ HĐKD, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính (Belobo and Pelser, 2014). DT từ hoạt động kinh doanh 9 DT phát sinh từ HĐKD liên quan đến các hoạt động tạo ra doanh thu chủ yếu của DN. DT này được phát sinh từ việc mở rộng điều kiện cho phép công nợ, tăng hàng tồn kho, sử dụng vốn từ các nhà cung cấp.
Thông tin về DT từ HĐKD kết hợp với các thông tin khác sẽ giúp dự đoán được DT từ HĐKD trong tương lai. DT HĐKD chủ yếu gồm: thu từ việc bán hàng cung cấp dịch vụ, thu từ các khoản thu khác (Machokoto and Agyei-Boapeah, 2018). DT từ HĐKD được thể hiện qua 2 cách: trực tiếp và gián tiếp. Phương pháp trực tiếp thu thập thông tin từ DT phát sinh trực tiếp như thu tiền từ khách hàng, trả nhà cung cấp, nhân viên, nghĩa vụ với Nhà nước và trả khác.
DT theo phương pháp trực tiếp bao gồm DT (ra và vào) từ các HĐKD của DN. Phương pháp gián tiếp xác định DT thông qua BCĐKT và BCKQKD, bắt đầu từ lợi nhuận ròng trên BCKQKD sau đó điều chỉnh ảnh hưởng của những giao dịch không phát sinh tiền như khấu hao, thay đổi vốn lưu động. Phương pháp gián tiếp chỉ được sử dụng để xác định DT từ HĐKD và được sử dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia trên thế giới (Basioudis, 2019). Với phương pháp gián tiếp, DN sẽ thấy mối quan hệ giữa các BCTC.
Phương pháp trực tiếp giảm được khối lượng nhập liệu DT trực tiếp phát sinh và giảm chi phí xác định DT của DN. DT từ HĐKD được coi là quan trọng nhất, phân tích DT từ HĐKD theo phương pháp trực tiếp giúp cho đoanh nghiệp nhận thấy năng lực của mình. Sự khác biệt về lợi nhuận ròng và DT từ HĐKD giúp DN đánh giá được chất lượng lợi nhuận (Chukwunwike et al. DT từ hoạt động đầu tư DT phát sinh từ hoạt động của nhà đầu tư có liên quan đến việc mua sắm, xây dựng, bán hàng, thanh lý tài sản dài hạn và các khoản đầu tư khác không thuộc các khoản tương đương tiền.
DT đầu tư chủ yếu gồm: tiền để mua sắm, xây dựng tài sản và các tài sản dài hạn khác, bao gồm tất cả các khoản chi phí phát triển đã được vốn hóa là tài sản vô hình, tài sản bán lại và các tài sản dài hạn khác (Kastratovic, Kaličanin and Kalicanin, 2017). DT từ hoạt động tài chính DT phát sinh từ hoạt động tài chính liên quan đến thay đổi về quy mô và kết cấu của VCSH và vốn vay của DN, chủ yếu bao gồm: phát hành cổ phiếu, nhận vốn 10 góp, tiền chi trả cổ tức, mua lại cổ phiếu của chính DN đã phát hành, thu tiền từ các khoản đi vay ngắn và dài hạn (Milojević and Miletić, 2014). Khái niệm sự mất cân đối dòng tiền Trong HĐKD của DN có DT ra và DT vào. DT ra (hay còn gọi là DT chi) và DT vào (hay còn gọi là DT thu) phát sinh từ 3 HĐKD chính là hoạt động đầu tư, hoạt động tài chính và HĐKD chính.
HĐKD thường diễn ra liên tục nên DT thu, chi cũng liên tục tiếp diễn. Tại những thời điểm nhất định có thể xảy ra lượng tiền thu nhỏ hơn lượng tiền chi hoặc ngược lại. Đây chính là lúc sự mất cân đối DT diễn ra. Mất cân đối DT là khi DN rơi vào tình trạng khó khăn về DT khi thanh toán nợ, thậm chí là mất khả năng thanh toán.
Sự mất cân đối DT phân thành 2 loại là mất cân đối tạm thời và mất cân đối dài hạn. Đối với mất cân đối tạm thời thì doanh nghiệp nào cũng xảy ra, như không góp vốn không thực hiện đúng như cam kết, không thu được tiền hàng như hợp đồng đã ký,… Để khắc phục vấn đề này, DN có thể thực hiện vay ngắn hạn. Mặt khác, đối với mất cân đối dài hạn xảy ra vì những lý do như: vốn lưu động thấp, doanh thu không đủ bù đắp chi phí thường xuyên, nợ khó đòi cao, định phí chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí,… Hậu quả của mất cân đối dài hạn có thể khiến DN bị phá sản. Mất cân đối dòng tiền có hậu quả nghiêm trọng đối với sự tồn tại của DN.
DN sẽ xảy ra mất cân đối DT trong những trường hợp sau: - DN sai lầm trong xác định lĩnh vực kinh doanh, lựa chọn chiến lược kinh doanh không phù hợp, chất lượng sản phẩm không đạt tiêu chuẩn của người tiêu dùng dẫn đến HĐKD kém, dễ bị phá sản nếu không có biện pháp tái cơ cấu hoặc tái lập DN. - Định phí (không tính khấu hao TSCĐ) chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí. Đây là những chi phí bắt buộc chi để duy trì HĐKD của DN như: tiền thuê văn phòng, nhà xưởng, lãi vay, … Định phí càng cao thì doanh thu tại điểm hòa vốn phải cao tương ứng. Mất cân đối dòng tiền sẽ xảy ra khi DN không đạt được mức doanh thu đó, DN cần tìm biện pháp tăng sản lượng bán ra, tăng doanh thu và giảm định phí.
- Lạm phát xảy ra khiến tốc độ tăng giá đầu vào cao hơn giá bán ra. DN cần cắt giảm các chi phí như thu hẹp quy mô, cắt giảm nhân viên,… 11 - Hàng tồn kho lớn, chứng tỏ khả năng tiêu thụ kém. - Vốn bị chiếm dụng lớn. Trong HĐKD, rất ít DN tránh được các khoản phải thu.