CHƯƠNG I QUÁ TRÌNH TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI TRONG ASEAN VÀ SỰ THAM GIA CỦA VIỆT NAM. QUÁ TRÌNH TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI TRONG ASEAN. Lịch sử hình thành và phát triển của ASEAN và AFTA. Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (gọi tắt là ASEAN-Association of Southeast Asia Nations) được thành lập năm 1967.
Ngày 08 tháng 8 năm 1967, 5 quốc gia Đông Nam Á bao gồm Inđônêxia, Malaixia, Philipin, Singapo và Thái Lan đã ký tuyên bố Bangkok theo đó thành lập ASEAN. 17 năm sau, Brunêy gia nhập hiệp hội và đến ngày 28 tháng 7 năm 1995, Việt Nam chính thức được công nhận là thành viên của tổ chức này. Bằng việc tiếp tục kết nạp Lào, Mianma vào năm 1997 và Campuchia vào năm 1999, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á hiện nay bao gồm 10 quốc gia Đông Nam Á. Một trong những mục tiêu của ASEAN là hợp tác nhằm phát triển nền kinh tế trong khu vực cũng như nền kinh tế từng nước.
Với mục tiêu đó, ASEAN đã triển khai hợp tác một cách có hiệu quả trong nhiều lĩnh vực khác nhau trên cơ sở ký kết các hiệp định, hiệp ước và các văn kiện khác thúc đẩy sự hợp tác kinh tế giữa các quốc gia nhằm đảm bảo tiến trình phát triển kinh tế bền vững của các quốc gia. Nhiều khuôn khổ hợp tác đã ra đời trên tinh thần này như AFTA (Khu vực thương mại tự do ASEAN-ASEAN Free Trade Area), AICO (cơ chế hợp tác công nghiệp ASEAN). Tình hình thế giới và khu vực có ảnh hưởng lớn đến quá trình hình thành và phát triển cũng như các mục tiêu phấn đấu của ASEAN. Điều này có thể được nhận biết qua ba giai đoạn phát triển của ASEAN: Giai đoạn thứ nhất 1967-1975: Giai đoạn này, tình hình thế giới và khu vực rất căng thẳng.
Đây là thời kỳ đỉnh cao của chiến tranh lạnh và đặc biệt khu vực Đông Nam Á được coi là điểm nóng của khu vực châu á với Ng« Thu Hµ - Líp Anh 5 - K38B 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kho¸ luËn tèt nghiÖp cuộc chiến tranh tại Việt Nam. Vì vậy, ASEAN ra đời với mục đích chủ yếu là tăng cường và đẩy mạnh hợp tác kinh tế trong khu vực nhằm đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế, văn hóa và tiến bộ xã hội, duy trì hòa bình, an ninh trong khu vực, xây dựng cồng đồng quốc gia Đông Nam Á hòa bình và thịnh vượng.Thời kỳ này, kinh tế các nước ASEAN chưa phát triển. Hợp tác trong ASEAN chủ yếu theo quyết định của các cấp Bộ trưởng, chưa đến cấp nguyên thủ quốc gia. Giai đoạn này, hợp tác ASEAN mang nặng màu sắc chính trị, tập trung giải quyết những bất đồng và xung đột, tìm kiếm lập trường chung về chính trị.
Năm 1971, các nước ASEAN thông qua kết quả dàn xếp xung đột và bước đầu xây dựng khu vực hợp tác toàn diện và tổ chức hội nghị cấp cao tại Kualalămpơ (Malaixia) và đưa ra tuyên bố xây dựng Đông Nam Á thành “khu vực hòa bình, tự do và trung lập”. Giai đoạn thứ hai 1975-1995: Tháng 2/1976 tại Bali (Inđonêxia) và tháng 8/1977 tại Kualalămpơ (Malaixia), ASEAN liên tục tiến hành hai hội nghị cấp cao, đánh dấu một giai đoạn mới trong hợp tác ở cấp nguyên thủ quốc gia. Các nước ASEAN khẳng định lập trường xây dựng ASEAN thành một khu vực hòa bình, tự do, trung lập và đưa ra chương trình hợp tác kinh tế-xã hội toàn diện và hoàn thiện cơ cấu tổ chức ASEAN. Nhờ vậy hợp tác nội bộ ASEAN và hợp tác giữa ASEAN và các quốc gia khác được mở rộng và hiệu qủa hơn.
Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ ba được tổ chức tại Manila (Philipin) năm 1989 tiếp tục cam kết đẩy mạnh hợp tác. Đặc biệt hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ tư tháng 1/1992 tại Singapo được đánh giá là thành công nhất so với các hội nghị cấp cao trước đó, các nước ASEAN đã ký bản tuyên bố chung với nội dung cơ bản sau: 1- ASEAN sẽ tiến lên đạt trình độ hợp tác kinh tế và chính trị cao hơn để củng cố hòa bình và thịnh vượng trong khu vực. Ng« Thu Hµ - Líp Anh 5 - K38B 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kho¸ luËn tèt nghiÖp 2- ASEAN kiên trì tìm kiếm và bảo vệ lợi ích tập thể của mình trước sự lớn mạnh của các tổ chức hợp tác kinh tế lớn trên thế giới. Đặc biệt ASEAN thông qua chủ trương thúc đẩy mở cửa hợp tác quốc tế và khuyến khích hợp tác kinh tế trong khu vực.
3- ASEAN sẽ tìm kiếm những giải pháp cho lĩnh vực hợp tác an ninh. 4- ASEAN sẽ tiến tới quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước Đông Dương sau khi giải quyết vấn đề Campuchia. Đặc biệt trong hội nghị lần này, ASEAN đã đi đến quyết định thành lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN - AFTA. Giai đoạn thứ ba (từ năm 1995 đến nay): Sự kiện Việt Nam tham gia vào ASEAN tháng 7/1995 có ý nghĩa lớn đối với Việt Nam và khu vực.
Nó mở ra thời kỳ hợp tác toàn diện trong khu vực, đẩy nhanh quá trình thống nhất và hợp tác trên toàn khu vực Đông Nam Á mà điểm mốc quan trọng đó là đến năm 1999 ASEAN đã bao gồm toàn bộ 10 quốc gia Đông Nam Á. ASEAN đã thống nhất trong đó các quốc gia mà đường lối chính trị có phần khác biệt và mâu thuẫn. Đây cũng là thời kỳ các quốc gia ASEAN nỗ lực đẩy nhanh tiến độ hợp tác và phát triển khu vực mậu dịch tự do. Giai đoạn này, ASEAN đã đạt được tốc độ phát triển kinh tế cao vào bậc nhất trên thế giới, vị thế kinh tế và chính trị của ASEAN cũng theo đó cải thiện đáng kể.
Quá trình tự do hóa thương mại trong ASEAN. Hiệp định về ưu đãi thương mại (PTA). Hiệp định ưu đãi thương mại ( Preferential Trade agreements - PTA) do các Bộ trưởng Ngoại giao Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ký tại Manila (Philipin) ngày 24 tháng 2 năm 1977. Đây là văn kiện quan trọng đầu tiên của ASEAN nhằm tiến tới tự do hoá buôn bán khu vực và đẩy nhanh hoạt động thương mại trong nội bộ khu vực.
Theo Hiệp định này, các nước ASEAN cam kết dành cho nhau ưu đãi trong quan hệ mậu dịch giữa các nước như ưu đãi trong việc ký kết các hợp đồng dài hạn về số lượng, Ng« Thu Hµ - Líp Anh 5 - K38B 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kho¸ luËn tèt nghiÖp những điều kiện ưu đãi về việc cung cấp tài chính cho nhập khẩu, những ưu đãi về mặt thủ tục hành chính liên quan đến xuất nhập khẩu, ưu đãi về thuế quan và thúc đẩy việc xoá bỏ các rào cản phi quan thuế trong buôn bán nội bộ khu vực. Hiệp định này không đặt ra những mục tiêu đặc biệt như các hiệp định ưu đãi buôn bán khác của các nước đang phát triển, mà cố gắng thiết lập một cơ chế giúp hoạt động thương mại trong phạm vi ASEAN được tự do hoá từng bước, phù hợp với khả năng của các nước thành viên. PTA ra đời đã đánh dấu một bước tiến mới trong quá trình tự do hoá thương mại của các nước ASEAN - từ các chương trình tự do hoá thương mại đơn phương đã chuyển sang thực hiện các chương trình tự do hoá thương mại khu vực. Với PTA, các nước hy vọng sẽ mở ra một thời kỳ mới trong hợp tác kinh tế khu vực.
Các nước ASEAN chọn cắt giảm thuế quan là biện pháp cơ bản nhất để thực hiện Hiệp định về Ưu đãi thương mại. Ban đầu, các nước thực hiện ưu đãi với từng sản phẩm được lựa chọn theo phương pháp lập khung thuế bắt buộc và phương pháp tự nguyện với một tốc độ tự do hoá mà các nước thành viên có thể chấp nhận được. Trong vòng đàm phán đầu tiên, mức giảm thuế ưu đãi (Margin of Preference - MOP) từ 10 - 30% được áp dụng đối với 71 mặt hàng và có hiệu lực từ ngày 1-1-1978, trong đó 21 mặt hàng được hưởng quy chế của PTA theo phương pháp bắt buộc và 50 mặt hàng theo phương pháp tự nguyện. Do các ưu đãi được xác định trên cơ sở tự nguyện nên dẫn đến kết quả là chỉ có rất ít mặt hàng được đưa vào thực hiện PTA.
Sau năm 1980, các nước ASEAN hướng vào tự do hoá thương mại hơn nữa. Các nước ASEAN chuyển việc thực hiện PTA từ nguyên tắc tự nguyện và lựa chọn từng sản phẩm đối với từng nước sang nguyên tắc giảm thuế theo quy định của Hiệp hội áp dụng cho tất cả các nước. Mức giảm 20% thuế dành cho tất cả các nước thành viên được thông qua đối với 6000 sản phẩm có giá trị nhập khẩu dưới 500. Mức giới hạn này tăng Ng« Thu Hµ - Líp Anh 5 - K38B 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kho¸ luËn tèt nghiÖp dần từ 500.000 USD lên 1 triệu, sau đó là dưới 10 triệu.
Năm 1984 người ta chấp nhận giảm 20 - 25% thuế đối với tất cả các sản phẩm có giá trị buôn bán vượt 10 triệu USD. Tới tháng 6-1986, có tất cả 12647 sản phẩm của 6 nước ASEAN được hưởng ưu đãi theo PTA. Tiếp đó, mức ưu đãi giảm thuế được tăng lên 50%. Đến cuối năm 1987, có khoảng 20.000 mặt hàng được hưởng mức ưu đãi giảm thuế ở mức từ 20 - 50%.
Vào thời gian này, một cuộc đánh giá kết quả 10 năm thực hiện PTA đã được tiến hành và các nhà nghiên cứu cho rằng mặc dù các nước đều tích cực hoạt động theo hướng tăng cường tự do hoá thương mại trong khu vực song kết quả mở rộng thương mại nội bộ khu vực đã không đạt được như ý muốn. Lý do cơ bản là vì danh mục sản phẩm loại trừ đối với các hàng hóa “nhạy cảm” mà các nước được phép đưa ra trên cơ sở thực trạng sản xuất của mình bao gồm một số lượng lớn hàng hoá trao đổi trong khu vực của mỗi nước, trừ Singapo chỉ chiếm 2%. Cụ thể là, đối với Thái Lan, tỷ lệ mặt hàng nằm trong danh mục loại trừ trên tổng số mặt hàng trao đổi với các nước trong khu vực là 63%, Inđônêxia - 54%, Malaixia - 39%, Philipin - 25%. Bên cạnh đó, sự khác nhau lớn về chủng loại mặt hàng trong diện giảm thuế của các nước cũng làm hạn chế đáng kể hiệu quả của PTA.
Cho tới trước Hội nghị Cấp cao Manila, quá trình thực hiện PTA tiến triển hết sức chậm chạm, vẫn còn rất nhiều mặt hàng nằm ngoài danh sách PTA.