Đặt vấn đề: Sinh kế bền vững đang là một mối quan tâm đặt lên hàng đầu hiện nay của con ngƣời. Nó là điều kiện cần thiết cho quá trình phát triển, nâng cao đời sống của con ngƣời nhƣng vẫn đáp ứng đƣợc đòi hỏi về chất lƣợng môi trƣờng tự nhiên. Trên thực tế đã có nhiều chƣơng trình, tổ chức dự án hỗ trợ cho cộng đồng để hƣớng đến mục tiêu phát triển ổn định và bền vững. Thực tế cho thấy, việc lựa chọn những hoạt động sinh kế của ngƣời dân chịu ảnh hƣởng rất lớn từ nhiều yếu tố: điều kiện tự nhiên, xã hội, yếu tố con ngƣời, vật chất, cơ sở hạ tầng.
Việc đánh giá hiệu quả các hoạt động sinh kế giúp chúng ta hiểu rõ đƣợc những phƣơng thức sinh kế của ngƣời dân có phù hợp với các điều kiện của địa phƣơng hay không. Các hoạt động sinh kế đó có bền vững, phát triển lâu dài và ổn định. Ninh Thuận là địa phƣơng luôn thiếu mƣa, thừa nắng quanh năm. Mùa mƣa chính ở tỉnh chỉ tập trung vào 3 tháng cuối năm.
Do đó, Ninh Thuận đang rơi vào tình thế khó khăn về nguồn nƣớc phục vụ cho sản xuất, sinh hoạt và chăn nuôi, là tỉnh luôn đối mặt với khô hạn. Chính vì vậy, để đảm bảo điều kiện sản xuất, Ninh Thuận luôn đƣợc nhà nƣớc quan tâm hỗ trợ xây dựng nhiều công trình thủy lợi lớn, nhỏ để tích nƣớc phục vụ sản xuất. Tính đến 07/2020, Ninh Thuận có tổng cộng 21 hồ chứa với tổng dung tích thiết kế 194,49 triệu m3. Tuy nhiên, hầu hết các hồ chứa đều không có nƣớc nguồn cung cấp thƣờng xuyên, chủ yếu là tích nƣớc nên cứ kịch bản khô hạn xảy ra là các hồ đều cạn trơ đáy.
Trƣớc tình thế khó khăn này, để bảo đảm đời sống cho ngƣời dân, tỉnh Ninh Thuận yêu cầu các ngành, các huyện thành phố tích cực triển khai các công tác ứng phó hạn. Song song với việc khuyến cáo tiết kiệm nƣớc, đƣa các sáng kiến tƣới tiết kiệm vào ứng dụng thì cần nhanh chóng chuyển đổi cây trồng, vật nuôi để thích ứng với những biến đổi cực đoan của thời tiết. Việc tìm kiếm sinh kế bền vững cho ngƣời dân đang trở thành vấn đề vô cùng cấp thiết. 1 Nhắc đến khó khăn, không thể không nhắc đến huyện Bác Ái.
Đây là huyện miền núi, có diện tích tự nhiên 102.270 ha, trong đó hơn 80 % là rừng và đất lâm nghiệp, đất sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 8 %. Dân số trên 29000 ngƣời, trong đó dân tộc thiểu số chiếm trên 95 %. Với vị trí địa lý cũng nhƣ điều kiện tự nhiên hết sức khắc nghiệt, lƣợng mƣa trung bình hằng năm thấp nhất cả nƣớc, đất đai bạc màu khó canh tác. Trong khi đó cơ cấu kinh tế của huyện là nông – lâm nghiệp chiếm tỷ trọng chủ yếu, trình độ dân trí, nhận thức của ngƣời dân còn hạn chế, cuộc sống và sản xuất của bà con còn ảnh hƣởng nhiều của phong tục tập quán lạc hậu, đời sống kinh tế của nhân dân còn rất khó khăn, đặc biệt là ngƣời dân của dân tộc Raglai tỷ lệ hộ nghèo của họ còn rất cao.
Ngƣời Raglai ở Việt Nam có dân số 122.245 ngƣời, có mặt tại 18 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Hiện nay, ngƣời Raglai sinh sống ở các vùng núi Nam Trung bộ có độ cao trên dƣới 500 mét, đặc biệt tập trung đông nhất ở Ninh Thuận hơn 50 %. Cuộc sống của ngƣời Raglai truyền thống gần nhƣ chỉ thu hẹp trong khuôn khổ của các xóm hoặc buôn làng và gần nguồn nƣớc. May mắn thay, hồ thủy lợi Sông Sắt nằm trên Sông Sắt thuộc địa phận xã Phƣớc Thắng, huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận với diện tích tự nhiên toàn vùng khoảng 7.000 ha đã phần nào tác động đến sinh kế của ngƣời dân dọc con sông này.
Liệu rằng việc xây dựng thủy lợi hồ Sông Sắt có thực sự giúp ổn định sinh kế của nông hộ vào mùa khô, đảm bảo vấn đề sản xuất nông dân đƣợc ổn định, khắc phục những vấn đề sản xuất để thu nhập của ngƣời dân đƣợc ổn định, nâng cao mức sống. Vì vậy nhóm đã chọn đề tài “Đánh giá tác động của công trình thủy lợi hồ Sông Sắt đến thu nhập của ngƣời dân huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận”.2 Mục tiêu nghiên cứu: 1.1 Mục tiêu chung: Đánh giá tác động của công trình thủy lợi hồ Sông Sắt đến sinh kế của ngƣời dân huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp khả thi cho chiến lƣợc sinh kế bền vững phù hợp với điều kiện của cƣ dân tại địa phƣơng.2 Mục tiêu cụ thể: Phân tích thực trạng sinh kế của ngƣời dân trên địa bàn huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận. Đánh giá tác động của công trình thủy lợi đến sinh kế của ngƣời dân trên địa bàn huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận.
Đề xuất kiến nghị nhằm phát triển sinh kế bền vững cho ngƣời dân tại huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận.3 Phạm vi nghiên cứu đề tài: 1.1 Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu đƣợc tiến hành tại huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận.2 Phạm vi thời gian: Thời gian tiến hành nghiên cứu đề tài từ ngày 19/06/2020 đến ngày 30/08/2020.3 Đối tƣợng nghiên cứu: Sinh kế của các hộ dân dọc công trình thủy lợi hồ Sông Sắt huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận.4 Đối tƣợng khảo sát: Các hộ dân sinh sống dọc công trình thủy lợi hồ Sông Sắt tại huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận. 3 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN 2.1 Tổng quan tài liệu tham khảo: Trong bài nghiên cứu “Sinh kế của người Khmer tại xã Vĩnh Hải, huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng” đƣợc tác giả Nguyễn Ngọc Minh (Hà Nội, 2018) thực hiện thông qua phƣơng pháp phỏng vấn chuyên gia và điều tra nông hộ trên địa bàn xã Vĩnh Hải, huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Qua khảo sát với sự tham gia của 100 hộ gia đình dân tộc Khmer tập trung phân tích về các yếu tố nguồn lực nhƣ: tài chính, nhân lực, xã hội, vật chất, tự nhiên, chính sách hỗ trợ của chính quyền. Đối chiếu kết quả nghiên cứu thực nghiệp với giả thuyết đã đƣa ra trong nghiên cứu có thể rút ra nhận định: Các nguồn lực hiện có của ngƣời Khmer còn hạn chế dẫn đến hoạt động sinh kế chƣa có hiệu quả cao dẫn đến tỷ lệ hộ dân tộc Khmer nghèo còn cao.
Các chính sách của nhà nƣớc chƣa hỗ trợ nhiều cho sinh kế cho ngƣời Khmer tại địa phƣơng. Theo Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Thị Ngọc Dung (2014) đã tiến hành nghiên cứu về “Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế và giải pháp sinh kế bền vững cho người dân vùng lũ tỉnh An Giang”. Nghiên cứu đã đƣa ra đánh giá chung về sự suy giảm nguồn lợi thủy sản là nguyên nhân gây tổn thƣơng đến sinh kế ngƣời dân nghèo vùng lũ tỉnh An Giang. Có 5 nguyên nhân chính ảnh hƣởng đến sự suy giảm nguồn lợi thủy sản: sức ép dân số, dụng cụ đánh bắt hủy diệt, đê bao chống lũ, ảnh hƣởng thuốc bảo vệ thực vật và sự suy giảm lƣu lƣợng sông Mekong.
Sinh kế ngƣời dân dần thay đổi và có sự khác biệt giữa nhóm trong đê và ngoài đê: nhóm trong đê thay đổi nhanh và đa dạng hơn trong khi nhóm ngoài đê chuyển đổi chậm và vẫn phụ thuộc nhiều vào đánh bắt thủy sản. Cần tận dụng những cơ hội để phát triển thế mạnh sẵn có và giảm rủi ro cũng nhƣ các mặt bất lợi để định hƣớng sinh kế bền vững cho ngƣời dân, đồng thời 4 nâng cao nhận thức của ngƣời dân để cân bằng lợi ích giữa các nhóm cộng đồng trong vùng lũ đầu nguồn. Tác giả dùng phƣơng pháp phân tích SWOT để thấy rõ những lợi thế, điểm còn yếu kém, và các cơ hội, rủi ro trong sinh kế hiện của ngƣời dân là đánh bắt thủy sản, từ đó đề xuất các giải pháp sinh kế ổn định và bền vững hơn cho ngƣời dân. Theo Thạc sĩ Nguyễn Đình Vƣợng, Thạc sĩ Huỳnh Ngọc Tuyên (2015) đã nghiên cứu “Đề xuất các giải pháp nối mạng hệ thống các công trình hồ chứa thủy lợi nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nước trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận”.
Nghiên cứu đãđánh giá khả năng nguồn nƣớc, nhu cầu dùng nƣớc và tính toán cân bằng nƣớc của các hồ chứa, các lƣu vực, vùng (bao gồm các hồ chứa thủy lợi hiện trạng và đã đƣợc quy hoạch đến 2020) để xác định khả năng nối mạng hệ thống các công trình thủy lợi. Định hƣớng xây dựng quy trình vận hành điều tiết các hồ chứa trong hệ thống các công trình thủy lợi đã đƣợc nối mạng tại Ninh Thuận. Đề tài đã tiến hành tính toán nhu cầu nƣớc và cân bằng nƣớc cho toàn tỉnh Ninh Thuận, khác với các nghiên cứu khác là chỉ tính chung cho cho các vùng, trong đề tài này, nhóm nghiên cứu đã tiến hành với phƣơng pháp tính toán nhu cầu nƣớc, tiềm năng nguồn nƣớc cho từng tuyến công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận, từ đó tính toán cân bằng nƣớc cho từng tuyến công trình trong trƣờng hợp công trình hiện trạng và công trình đã quy hoạch đồng thời cũng đã xem xét tác động của biến đổi khí hậu đến nguồn nƣớc của tỉnh. Khi có hệ thống công trình nối mạng thì hình thành các vùng đƣợc cấp nƣớc tƣới ổn định, tạo điều kiện rất lớn giúp ngƣời nông dân phát triển kinh tế và ổn định cuộc sống.
Nhờ vào sự nghiên cứu trên đã giúp cho hàng nghìn ha lúa và hoa màu của ngƣời dân ở các xã Phƣớc Đại, Phƣớc Thắng, Phƣớc Tiến… luôn xanh tốt. Từ là một huyện Bác Ái không có đất sản xuất nằm trong diện chủ động nƣớc tƣới, hiện nay đã có hơn năm nghìn ha trong tổng số mƣời nghìn ha đất nông nghiệp. Theo Nguyễn Đăng Hào (2010) đã tiến hành nghiên cứu “Sự thay đổi trong chiến lược sinh kế và thu nhập của các nông hộ vùng cát ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế”, giai đoạn 2003-2008 nghiên cứu cho thấy các chiến lƣợc sinh kế áp dụng bởi các hộ ở vùng cát ven biển đã đƣợc phân tích bởi sự kết hợp cả thông tin định tính từ phƣơng pháp đánh giá có sự tham gia và thông tin định lƣợng từ các cuộc phỏng vấn 5 hộ. Nhìn chung, sinh kế các hộ trong khu vực phụ thuộc lớn vào nông nghiệp.
Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có sự khác biệt lớn không chỉ về qui mô thu nhập mà còn cả cơ cấu thu nhập giữa các loại hộ. Bên cạnh nông nghiệp, thu nhập từ ngành nghề, thủy sản đang trở nên quan trọng với các hộ khá.