CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Cơ sở lý thuyết về kỹ thuật, công nghệ mới trong nông nghiệp 1. Lược khảo lý thuyết 1. Các khái niệm Nông nghiệp theo nghĩa hẹp là ngành sản xuất ra của cải vật chất mà con người phải dựa vào quy luật sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm như lương thực, thực phẩm… để thỏa mãn các nhu cầu của mình.
Nông nghiệp theo nghĩa rộng còn bao gồm cả lâm nghiệp, ngư nghiệp. Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm (Luật Khoa học công nghệ, 2013). Theo Đinh Phi Hổ (2008), công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ và phương tiện nhằm biến đổi các nguồn lực thành các sản phẩm hay dịch vụ phục vụ cho sản xuất và đời sống. Công nghệ được coi là sự kết hợp giữa phần cứng và phần mềm.
Phần cứng là máy móc, nhà xưởng, thiết bị. Phần mềm bao gồm 3 thành phần: con người (kiến thức, kỹ năng, tay nghề, kinh nghiệm), thông tin (bí quyết, quy trình, phương pháp) và tổ chức (sắp xếp, điều phối, quản lý). Theo Vũ Đình Thắng (2011), công nghệ là tập hợp những kiến thức của con người, nhưng đã được chuyển hóa thành phương thức và phương pháp sản xuất, đã được vật chất hóa trong công cụ lao động, đối tượng lao động, trong quy trình công nghệ hoặc kết tinh thành kỹ năng, kỹ xảo hay kết hợp các yếu tố đầu vào sao cho có hiệu quả nhất của người lao động trong sản xuất nông nghiệp. Các tiến bộ khoa học công nghệ trong nông nghiệp có thể phân nhóm như sau: tiến bộ kỹ thuật trong việc sử dụng giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật; trong việc cải tạo đất; sử dụng nguồn nước trong nông nghiệp và vấn đề bảo vệ môi trường; trong việc sử dụng các TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 phương tiện cơ khí; những tiến bộ liên quan đến người lao động gồm: trình độ văn hóa, kỹ năng, kỹ xảo, trình độ quản lý… Như vậy có thể nói ứng dụng nông nghiệp công nghệ mới là việc đưa các công nghệ, kỹ thuật mới, tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp nhằm tạo ra các sản phẩm đạt năng suất và chất lượng cao hơn.
Cơ sở hình thành chương trình “Một phải năm giảm” Chương trình “Ba giảm ba tăng” có nội dung: Ba giảm là giảm lượng giống, giảm phân đạm, giảm thuốc trừ sâu; Ba tăng là tăng năng suất, tăng chất lượng, tăng lợi nhuận. Chương trình “Ba giảm ba tăng” được công nhận là tiến bộ kỹ thuật để tăng hiệu quả sản xuất lúa cao sản theo Quyết định số 1579/QĐ/BNN-KHCN ngày 30/7/2005 của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn. Chương trình “Một phải năm giảm” là sự mở rộng của chương trình “Ba giảm ba tăng” và tiếp tục đưa vào áp dụng các kỹ thuật mới như phải dùng giống xác nhận, áp dụng kỹ thuật tưới ướt khô xen kẻ (ADW-Alternate Wettingand Drying) để giảm sử dụng nước tưới và giảm thất thoát sau thu hoạch chủ yếu là dùng máy gặt đập liên hợp và phơi, sấy đúng kỹ thuật. Theo Quyết định số 532/QĐ-TT-CLT ngày 07/11/2012 của Cục Trồng trọt về việc công nhận “Ứng dụng biện pháp kỹ thuật tổng hợp “Một phải năm giảm” ở Đồng bằng Sông Cửu Long” là tiến bộ khoa học kỹ thuật, quy trình áp dụng được công nhận chủ yếu là: Về đất: Chuẩn bị kỹ, trang bằng mặt ruộng; Về giống: Sử dụng giống xác nhận, lượng giống gieo sạ từ 80-100kg/ha, gieo sạ đồng loạt, tập trung “né rầy”; Về phân bón: Bón phân theo nhu cầu của cây lúa, tránh bón thừa phân đạm; Quản lý nước tưới theo phương pháp ướt khô xen kẻ; Quản lý dịch hại lúa: tuân thủ theo IPM, hạn chế phun thuốc trong giai đoạn lúa đẻ nhánh (dưới 40 ngày tuổi); sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) theo nguyên tắc “ Bốn đúng” (đúng lúc, đúng thuốc, đúng liều, đúng cách); Thu hoạch lúa đúng độ chín và sử dụng máy gặt đập liên hợp.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Như vậy theo các khái niệm ở phần 1.1, trên lĩnh vực khoa học công nghệ có thể nói chương trình “Một phải năm giảm” được xem là công nghệ mới trong nông nghiệp vì gồm cả phần cứng như vật tư nông nghiệp, công cụ và phần mềm là quy trình kỹ thuật được áp dụng nhằm tạo ra sản phẩm và làm tăng hiệu quả sản xuất lúa. Do đó trong phạm vi luận văn nghiên cứu là tác động của việc ứng dụng chương trình khuyến nông “Một phải năm giảm” được tác giả gọi tắt là ứng dụng nông nghiệp công nghệ mới (và viết tắt là UDNNCNM). Các nghiên cứu thực nghiệm Theo Nguyễn Văn Hòa và cộng sự (2006), từ năm 2001 đến năm 2005 tại Đồng bằng Sông Cửu Long, sản lượng và năng suất lúa tăng chủ yếu do công tác chọn tạo, phát triển giống mới và sử dụng giống xác nhận ngày càng tăng. Theo Phạm Văn Kim (2005), khoảng cách trồng ảnh hưởng đến sự phát triển của dịch bệnh.
Việc trồng thưa giúp thông thoáng, giảm ẩm độ, không làm giảm nhiệt độ bên dưới tán cây, giúp giảm sự phát triển của dịch bệnh và giúp giảm sự lây lan của dịch bệnh. Khoảng cách trồng phụ thuộc vào kỹ thuật canh tác và tại An Giang đã đạt được ở mức khuyến cáo từ 80-100 kg/ha. Qua đó, năng suất vẫn đảm bảo ổn định và lợi nhuận đạt được cao hơn do giảm được chi phí từ các khâu kỹ thuật khác. Theo Nguyễn Hữu Huân (2006), ruộng càng bón nhiều phân đạm thì thiệt hại do sâu bệnh gây ra càng nặng.
Ruộng lúa bón đạm cao (200 kgN/ha) bị rầy nâu gây hại ở mật số cao, tỉ lệ thiệt hại do sâu cuốn lá, sâu đục thân và bệnh đạo ôn gia tăng. Theo báo cáo nghiệm thu mô hình thử nghiệm của Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh An Giang (năm 2009), qua điều tra 175 hộ nông dân cho thấy việc ứng dụng mô hình “Một phải năm giảm” bước đầu mang lại hiệu quả như: nông dân trong mô hình sử dụng 85% giống xác nhận, nông dân ngoài mô hình sử dụng 41,7% giống xác nhận; nông dân trong mô hình giảm được 24,5kg giống/ha, 6,9 kgN/ha, 0,6 lần/vụ thuốc trừ sâu, giảm 0,5 lần tưới nước so với nông dân canh tác theo tập quán. Đoàn Ngọc Phả và cộng sự (2010), qua kết quả điều tra 146 hộ nông dân cho thấy nông dân tham gia chương trình “Một phải năm giảm” đạt hiệu quả kỹ thuật là: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 giảm được 40,35kg giống/ha, 15,33 kgN/ha, 1 lần phun thuốc trừ sâu rầy, 0,6 lần phun thuốc trừ bệnh, giảm một số lần bơm tưới so với nông dân canh tác theo tập quán. Trong vòng 40 ngày sau khi sạ 70,5 % nông dân “Một phải năm giảm” không phun thuốc trừ sâu, trong khi chỉ có 37,3% nông dân canh tác theo tập quán không phun.
Tuy nhiên, năng suất lúa tương đương nhau là 7,4 tấn/ha. Theo Asea và cộng sự (2010), nông dân nên sử dụng giống chất lượng tốt vì giống chất lượng tốt có thể làm tăng năng suất từ 5-20%. Theo Feder và Slade (1993) và Van den Ban (1996), tổ chức khuyến nông làm cầu nối giữa công nghệ mới và người ứng dụng nó. Thông qua các chương trình huấn luyện, các hộ cộng tác viên hoặc các phương tiện thông tin đại chúng, hệ thống khuyến nông chuyển giao các công nghệ mới đến nông dân.
Vì vậy, hệ thống khuyến nông có vai trò quyết định đối với việc nâng cao kiến thức nông nghiệp cho nông dân và ứng dụng công nghệ mới một cách nhanh chóng cho đa số nông dân. Cơ sở lý thuyết về thu nhập và các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập 1. Lược khảo lý thuyết Theo Tổng cục Thống kê (2010): thu nhập của hộ là toàn bộ chi phí và giá trị hiện vật quy thành chi phí sau khi đã trừ chi phí sản xuất mà hộ và các thành viên của hộ nhận được trong một thời gian nhất định, thường là một năm. Trong nghiên cứu này, nguồn thu nhập của nông dân trồng lúa là thu nhập từ việc bán lúa sau khi đã trừ đi các chi phí (chi phí giống lúa, chi phí thuốc bảo vệ thực vật, chi phí phân bón, chi phí bơn nước, chi phí thu hoạch,…) và chi phí công lao động (công lao động gia đình và lao động thuê mướn).
Khảo lược các nghiên cứu thực nghiệm: Theo Scoones (1998) cho rằng có hai yếu tố tác động đến thu nhập của hộ gia đình: một là, các khoản tiết kiệm và tín dụng; hai là,vốn con người (gồm giáo dục và lực lượng lao động). Theo Karttunen (2009) cho rằng nguồn lực vốn con người và các yếu tố xã hội như giới tính, trình độ kiến thức của chủ hộ có ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình. Theo Phandanouvong (1998), trình độ giáo dục và độ tuổi của chủ hộ ảnh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 hưởng tới thu nhập của hộ. Safa (2005) chứng minh các đặc trưng như: Độ tuổi, quy mô lao động của hộ, kinh nghiệm sản xuất và kiến thức về lĩnh vực sản suất ảnh hưởng đến thu nhập của hộ.
Theo Đinh Phi Hổ và Chi Vandy (2010) cho rằng diện tích đất nông nghiệp, trình độ ứng dụng công nghệ sinh học, trình độ ứng dụng công nghệ cơ giới, trình độ kiến thức nông nghiệp của chủ hộ ảnh hưởng thuận chiều đến thu nhập của hộ nông dân. Theo Đinh Phi Hổ và Hoàng Thị Thu Huyền (2010), cho rằng diện tích đất nông nghiệp, trình độ kiến thức của chủ hộ, mô hình đa dạng ảnh hưởng thuận chiều đến thu nhập của hộ nông dân. Theo Đỗ Quang Giám và Trần Quang Trung (2013), cho rằng các hộ nông dân chăn nuôi heo thịt tham gia kết nối thị trường ở các mô hình khác nhau đều có mức thu nhập cao hơn so với các hộ không tham gia. Và các nhân tố như quy mô sản xuất, trình độ học vấn, địa vị xã hội và biến động giá sản phẩm trên thị trường ảnh hưởng đến khả năng tham gia kết nối nông dân – thị trường của nông hộ.
Theo Đinh Phi Hổ và Nguyễn Văn Hòa (2014), cho rằng kiến thức nông nghiệp, chi phí sản xuất năm, vốn vay ngân hàng và kinh nghiệm sản xuất của chủ hộ ảnh hưởng đến thu nhập của hộ sản xuất nước cốt bần. Theo Đinh Phi Hổ và Trương Châu (2014), cho rằng trình độ văn hóa của chủ hộ, quy mô hộ, quy mô diện tích đất nông nghiệp, số hoạt động tạo thu nhập và kinh nghiệm sản xuất của chủ hộ ảnh hưởng đến thu nhập của hộ.