phần Mở đầu, Kết luận, luận án gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài Chƣơng 2: Thực hiện chính sách xã hội và tác động của nó tới đời sống nữ CNLĐ trong các doanh nghiệp ngoài Nhà nƣớc trên địa bàn Hà Nội Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng, giải pháp hoàn thiện các chính sách xã hội nhằm nâng cao đời sống của nữ CNLĐ trong doanh nghiệp ngoài Nhà nƣớc hiện nay 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Trên thế giới, một thời gian dài trƣớc đây do quan niệm, nhận thức chƣa đúng về vai trò và năng lực của nữ trong hoạt động kinh tế - xã hội nên việc tuyển chọn, đào tạo và sử dụng lao động nữ chƣa đƣợc chú trọng. Đến nay, trong công cuộc xây dựng và kiến thiết của mỗi quốc gia, một lực lƣợng phụ nữ ngày càng đông đảo đã đƣợc huy động, sử dụng và điều này đòi hỏi lao động nữ phải đƣợc đào tạo để trở thành ngƣời lao động có trình độ văn hoá, có chuyên môn giỏi để có thể tham gia đƣợc vào các lĩnh vực, các ngành nghề khác nhau. Từ những năm 80 đến những năm cuối của thập niên 90, tại các nƣớc trên thế giới và ở khu vực và châu Á, tỷ lệ lao động nữ tham gia vào các hoạt động kinh tế xã hội ngày một tăng lên.
Cùng với xu hƣớng chuyển dịch mô hình cơ cấu lao động nhƣ lao động nông lâm nghiệp giảm, tăng tỷ lệ lao động công nghiệp và dịch vụ khiến tỷ lệ lao động nữ tham gia trong các ngành sản xuất, kinh tế xã hội so với nam giới thì không hề thua kém. Ở Hàn Quốc năm 1998 tỷ lệ nữ làm trong các ngành công nghiệp là 19,0% so với nam giới là 34,0%, ở Indonesia là 16,0%/21%; ở Malaxia là 28,0%/34%; ở Thái Lan là 16,0%/19,0%; ở Singapore là 23,0%/34,0%. Nhìn chung, tỷ lệ lao động nữ ngày càng tăng và tập trung trong một số ngành nhƣ may mặc, dệt sợi, đồ chơi, hàng thể thao. [8;17,19,20] Ở nước ta, đội ngũ nữ CNLĐ đang biến đổi theo chiều hƣớng đi lên cả về số lƣợng và chất lƣợng.
Vào năm 1991, sau 5 năm đổi mới, số lƣợng nữ CNLĐ cũng ngày càng tăng lên, chiếm tỷ lệ gần 50,0% trong tổng số CNLĐ toàn quốc, (khoảng 2. Một số ngành có nhiều nữ CNLĐ nhƣ sản xuất công nghiệp là 377.800 ngƣời, chế biến lƣơng thực, thực phẩm là 160. Theo số liệu của Tổng cục thống kê đến năm 2005, phụ nữ Việt Nam chiếm 51,48% dân 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com số và 52,0% lực lƣợng lao động xã hội. Nhƣ vậy, sau hơn hai mƣơi năm đổi mới vừa qua, chúng ta càng nhận thấy sự đóng góp hết sức to lớn của đội ngũ nữ CNLĐ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Qua nhiều công trình nghiên cứu cho thấy, xã hội ngày càng tiến bộ và bình đẳng về giới thì vai trò của ngƣời phụ nữ lại càng thể hiện rõ trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội. Thực tế, bên cạnh các ngành nghề đƣợc coi là thế mạnh của phụ nữ, chị em còn có thể làm những công việc nặng nhọc mà trƣớc đây thƣờng chỉ có nam giới đảm nhận nhƣ: lái xe ôtô, vận chuyển hàng hoá. và cũng có thể đảm nhận những vị trí lãnh đạo chủ chốt trong các doanh nghiệp lớn. Ngoài ra, nhiều nghiên cứu gần đây cũng cho thấy bức tranh về đời sống vật chất và văn hoá tinh thần của nữ CNLĐ vẫn còn nhiều khó khăn, đặc biệt trong khu vực kinh tế ngoài Nhà nƣớc.
Thực tế này chịu ảnh hƣởng rất lớn từ việc thực hiện chính sách xã hội đối với ngƣời lao động. Trong quá trình lao động sản xuất, chính sách xã hội có ý nghĩa quan trọng về cả lý luận, thực tiễn và về kinh tế xã hội. Vì thế, thực hiện chính sách xã hội trong quan hệ lao động đã thu hút đƣợc nhiều ngành khoa học khác nhau cùng tham gia nghiên cứu với nhiều công trình, đề tài của nhiều nhà khoa học. Tại công ty Dệt 8-3, công ty Dệt 19-5, Xí nghiệp gạch Văn Điển và 4 xí nghiệp vệ sinh môi trƣờng thuộc 4 quận nội thành Hà Nội vào năm 1997, tác giả Tôn Thiện Chiếu - Phòng Xã hội học Lao động và Công nghệ, Viện Xã hội học đã triển khai đề tài nghiên cứu: “Môi trường lao động của nữ công nhân một số ngành nặng nhọc, độc hại và thái độ của họ”.
Nghiên cứu tập trung hƣớng đến nhận diện thực trạng môi trƣờng lao động của nữ CNLĐ cùng nhận thức của họ về điều kiện lao động và những đảm bảo về sức khoẻ cho nữ CNLĐ. Trên cơ sở đó, kiến nghị những chính sách nhằm cải thiện điều kiện lao động, góp phần bảo vệ và nâng cao sức khoẻ của nữ CNLĐ để họ thực hiện tốt các chức năng của mình trong sản 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xuất cũng nhƣ trong cuộc sống gia đình. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra những bất cập trong môi trƣờng lao động sản xuất của ngƣời công nhân nhƣng chƣa tập trung nhiều vào thực hiện những chính sách cần thiết đối với ngƣời lao động đặc biệt là nữ CNLĐ. Đề tài nghiên cứu: “Môi trường lao động và bệnh xạm da nghề nghiệp của nữ công nhân rải nhựa đường, Bộ Giao thông vận tải” của các tác giả Phạm Đắc Thuỷ, Vũ Thị Cánh Sinh (Bộ Giao thông vận tải) đề cập đến điều kiện làm việc còn nhiều khó khăn của công nhân rải nhựa đƣờng và đây cũng là một đặc thù riêng của nghề.
Môi trƣờng làm việc ngoài trời, tính rủi ro cao và nguy cơ mắc các bệnh nghề nghiệp cao nhƣ bệnh xạm da là điển hình. Bằng các phƣơng pháp nhƣ đo khí hậu, đo nhiệt độ và độ ẩm, đo tốc độ gió, đo nồng độ hơi khí độc nơi làm việc theo tiêu chuẩn của Viện Y học lao động và vệ sinh môi trƣờng, đề tài đã đánh giá tình hình sức khoẻ và bệnh tật của nữ công nhân rải nhựa đƣờng. Đề tài cũng đƣa ra một số khuyến nghị và giải pháp nhằm cải thiện điều kiện lao động cho ngƣời lao động, đặc biệt đối với nữ CNLĐ ngành này. Tuy nhiên, các tác giả vẫn chƣa đề cập nhiều tới việc thực hiện chính sách đối với nữ CNLĐ nói chung và nữ công nhân rải nhựa đƣờng nói riêng.
Năm 2000 trong cuốn sách của tác giả Bùi Thị Thanh Hà “Công nhân công nghiệp trong các doanh nghiệp liên doanh ở nước ta thời kỳ đổi mới” (NXB Khoa học xã hội). Tác giả tập trung nghiên cứu về đội ngũ công nhân công nghiệp trong các doanh nghiệp liên doanh thuộc các ngành công nghiệp: dệt may, giày da, công nghiệp thực phẩm trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đây là ngành công nghiệp chủ yếu đang thu hút nhiều vốn đầu tƣ của nƣớc ngoài và cơ hội để xuất khẩu sản phẩm cũng cao hơn các ngành khác. Các ngành này tập trung tại ba trung tâm công nghiệp của nƣớc ta trong năm 1990 gồm: Hà Nội, Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngoài ra, tác giả mô tả đội ngũ công nhân công nghiệp trong các doanh nghiệp liên doanh làm việc trong môi 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trƣờng, hoàn cảnh nhƣ thế nào để làm nền tảng cho các phân tích tiếp theo về quan hệ xã hội trong doanh nghiệp. Những tác động của đầu tƣ nƣớc ngoài tới điều kiện lao động của công nhân giúp chúng ta hình dung rõ nét hơn về thực trạng ngƣời lao động trong doanh nghiệp liên doanh cũng nhƣ khả năng, cơ hội thăng tiến của nữ CNLĐ. Phân tích các mối quan hệ chủ thợ, các quan hệ giữa công nhân với nhau và quan hệ giữa công nhân với các tổ chức công đoàn nhằm làm sáng tỏ các yếu tố tác động tới tâm trạng của ngƣời công nhân và thực trạng các nhu cầu của đội ngũ công nhân liên doanh. Bên cạnh đó tác giả cũng phân tích các hoạt động, quan hệ ngoài giờ làm việc cùng với những khó khăn và thuận lợi của nhóm nữ CNLĐ.
Nhìn chung, cuốn sách về đội ngũ công nhân này cũng đã đề cập một phần đến vấn đề chính sách xã hội thực hiện trong các doanh nghiệp liên doanh trong thời kỳ đổi mới ở nƣớc ta. Năm 2002, với sự tài trợ của Quỹ Châu Á, Ban nữ công Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam chủ trì và phối hợp với Công đoàn Tổng công ty Dệt may, Công đoàn Tổng công ty Da giầy, Liên đoàn Lao động thành phố Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh và Bình Dƣơng tiến hành, triển khai đề tài nghiên cứu “Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của lao động nữ trong các doanh nghiệp công nghiệp”. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy thực trạng thực thi Bộ Luật Lao Động đối với nữ CNLĐ tại một số tỉnh thành trong cả nƣớc còn nhiều bất cập. Từ đó, đề tài đã đƣa ra một số khuyến nghị nhƣ sau: Thứ nhất là cần đẩy mạnh công tác đào tạo nghề cho lao động nữ, chú trọng đến lao động nữ nông thôn đang đang làm việc trong nhiều ngành công nghiệp hƣớng vào xuất khẩu, sử dụng nhiều lao động nữ.
Thứ hai là cần phát triển mạnh hệ thống trƣờng dạy nghề, đáp ứng nhu cầu thị truờng lao động. Nhà nƣớc nên có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đào tạo nghề, đào tạo dự phòng cho lao động nữ nhƣ miễn giảm thuế tƣơng ứng với chi phí đào tạo, hỗ trợ vốn ƣu đãi cho trang thiết bị, nhà xƣởng, giáo trình., và đề ra các cơ chế qui định 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quyền và nghĩa vụ của lao động nữ đƣợc đào tạo tại doanh nghiệp. Thứ ba là cần liên kết các hệ thống đào tạo, các hình thức đào tạo thuộc các khu vực kinh tế khác nhau để nâng cao hiệu quả đào tạo, đáp ứng nhu cầu thị trƣờng và sự thay đổi công nghệ. Thứ tƣ là Cần nghiên cứu ban hành cơ chế giảm thiểu chi phí giao dịch tìm việc làm, mở rộng khả năng tiếp cận thông tin việc làm, đào tạo nghề.
cho lao động nữ, đặc biệt là những ngƣời nghèo, những ngƣời nhập cƣ, lao động nữ ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Nhìn chung, đề tài đã quan tâm tới việc thực thi các điều luật trong lao động đối với nữ ở phạm vi rộng trong các ngành nghề khác nhau, ở nhiều tỉnh thành khác nhau trên cả nƣớc.