đặt vấn đề nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, nội dung, phạm vi và phương pháp nghiên cứu. 2 – Tổng quan các nghiên cứu trước đây Trong phần này, tác giả tổng quan các nghiên cứu gần đây nhất về các lý thuyết cổ tức cũng như các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa chính sách cổ tức và biến động giá cổ phiếu. Từ đó, tác giả rút ra một phương pháp nghiên cứu phù hợp nhất cho trường hợp của Việt Nam. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 3 – Phương pháp nghiên cứu Trong phần này, dựa trên những công trình nghiên cứu đã tồn tại trên thế giới, tác giả trình bày giả thuyết nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, các biến trong mô hình, kỳ vọng dấu.
Bên cạnh đó tác giả cũng trình bày cách lựa chọn mẫu nghiên cứu và nguồn dữ liệu để tính toán các biến số được sử dụng trong nghiên cứu. 4 – Kết quả nghiên cứu và thảo luận Trong phần này, tác giả trình bày thống kê mô tả cho các biến số trong mô hình hồi quy, phân tích tương quan. Quan trọng nhất là kết quả hồi quy đến từ mô hình hồi quy và các thảo luận về kết quả của mô hình cũng được trình bày. 5 – Kết luận Phần này tác giả tóm tắt kết quả nghiên cứu, những gợi ý về mặt chính sách cũng như nêu lên những hạn chế của đề tài và những hướng mở rộng nghiên cứu tiếp theo.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY Như đã giới thiệu ở phần 1, quyết định chi trả cổ tức là một trong ba quyết định quan trọng nhất của tài chính doanh nghiệp và chính sách cổ tức là một chủ đề nghiên cứu phổ biến trong lĩnh vực tài chính trong hơn 50 năm qua và nhiều lý thuyết đã ra đời. Trong phần này, tác giả sẽ tổng quát lý thuyết nền về chính sách cổ tức, tổng quan các nghiên cứu trước đây trên thế giới. Sau đó, tác giả cũng tiến hành khảo lược các nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam về chủ đề chính sách cổ tức và tác động của chính sách cổ tức lên giá cổ phiếu tại Việt Nam.
Lý thuyết nền về chính sách cổ tức 2. Khái niệm chính sách cổ tức và cổ tức Chính sách cổ tức là chính sách ấn định mức lợi nhuận của công ty được đem ra phân phối như thế nào. Lợi nhuận sẽ được giữ lại để tái đầu tư cho công ty hay được trả cho các cổ đông. Lợi nhuận giữ lại cung cấp cho các nhà đầu tư một nguồn tăng trưởng lợi nhuận tiềm năng trong tương lai, trong khi đó cổ tức cung cấp cho nhà đầu tư một phân phối lợi nhuận hiện tại.
Căn cứ vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong năm và chính sách cổ tức được hội đồng cổ đông trong năm trước thông qua, hội đồng quản trị sẽ đề xuất việc trả cổ tức của cả năm và kế hoạch dự kiến trả cổ tức của công ty trong năm tiếp theo. Như vậy, cổ tức là một phần lợi nhuận sau thuế được công ty cổ phần phân chia cho các chủ sở hữu của mình bằng nhiều hình thức khác nhau như trả cổ tức bằng tiền mặt, trả cổ tức bằng cổ phần, trả cổ tức bằng tài sản khác hay mua lại cổ phần. Trong công ty cổ phần, việc quyết định phân chia cổ tức cho các cổ đông hết sức quan trọng bởi vì: thứ nhất, chính sách cổ tức ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các cổ đông vì cổ tức cung cấp cho cổ đông lợi nhuận hữu hình thường xuyên; thứ hai, chính sách cổ tức ảnh hưởng đến chính sách tài trợ của công ty thông qua việc quyết định chính sách cổ tức, công ty cũng đồng thời quyết định chính sách tài trợ dựa vào lợi nhuận giữ lại sau khi chi trả cổ tức; thứ ba, chính sách cổ tức ảnh hưởng đến TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 chính sách đầu tư của công ty do ảnh hưởng đến nguồn tài trợ từ lợi nhuận giữ lại vốn có chi phí sử dụng vốn thấp. Các chỉ tiêu đo lường chính sách cổ tức Cổ tức một cổ phần thường (diviđen per share – DPS) là chỉ tiêu phản ánh mức thu nhập thực tế mà mỗi cổ phần được hưởng từ kết quả hoạt động kinh doanh.
Cổ tức một cổ phần được tính dựa vào phần trăm mệnh giá cổ phần thường hoặc cũng có thể được tính như sau: Tổng thu nhập cổ phần thường dùng để chi trả cổ tức Cổ tức một cổ phần thường = Tổng số cổ phần thường Vì cổ tức một cổ phần thường là thu nhập thực tế nhà đầu tư nhận được ngay ở hiện tại nên chỉ tiêu này rất được quan tâm, một sự tăng lên trong cổ tức một cổ phần thường mang lại hiệu ứng tốt trong tâm lý các nhà đầu tư và ngược lại nếu cổ tức một cổ phần sụt giảm. Chỉ tiêu cổ tức một cổ phần thường không phải là chỉ tiêu đo lường triệt để chính sách cổ tức vì nhà đầu tư chỉ biết nhận được bao nhiêu tiền từ cổ tức, không biết công ty đã trích bao nhiêu phần trăm lợi nhuận sau thuế để chia cổ tức cho các cổ đông, và còn lại bao nhiêu để đầu tư. Để khắc phục nhược điểm này, nhà đầu tư có thể dựa vào chỉ tiêu tỷ lệ chi trả cổ tức. Tỷ lệ chi trả cổ tức (dividend payout ratio) là tỷ số phản ánh mức cổ tức mà cổ đông được hưởng chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong thu nhập một cổ phẩn thường công ty tạo ra trong năm tài chính: Cổ tức mỗi cổ phần Tỷ lệ chi trả cổ tức = Thu nhập mỗi cổ phần Tỷ lệ chi trả cổ tức càng cao phản ánh công ty đã sử dụng phần lớn lợi nhuận sau thuế để chi trả cổ tức cho các cổ đông, còn lại một phần nhỏ lợi nhuận đươc giữ lại để tái đầu tư và ngược lại.
Ngoài ra, chính sách cổ tức còn có thể được đo lường bằng chỉ tiêu tỷ suất cổ tức. Tỷ suất cổ tức (dividend yield) là tỷ lệ phần trăm giữa cổ tức và thị giá cổ phiếu hay là tỷ lệ cổ tức mà nhà đầu tư nhận được so với số tiền phải trả để mua cổ phiếu đó. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Cổ tức mỗi cổ phần Tỷ suất cổ tức = Giá trị thị trường mỗi cổ phần Thu nhập của nhà đầu tư gồm hai phần là cổ tức và chênh lệch giá cổ phiếu do chuyển nhượng cổ phiếu, như vậy tỷ suất cổ tức là tỷ suất sinh lợi của nhà đầu tư chỉ tính riêng cho thu nhập từ cổ tức. Tỷ suất cổ tức càng cao thể hiện rằng nhà đầu tư có tỷ suất sinh lợi từ cổ tức càng cao, còn tỷ suất cổ tức thấp nhà đầu tư có thể trông chờ vào tỷ suất sinh lợi từ lãi vốn của cổ phiếu.
Một tỷ suất cổ tức ở mức cao (hay thấp) chưa chắc đã phản ánh được công ty có chi trả cổ tức cao (hay thấp) không vì tỷ suất cổ tức còn phụ thuộc vào giá cổ phiếu trên thị trường, do vậy chỉ tiêu này chỉ dung để so sánh chính sách cổ tức của những công ty khác nhau nhưng có những đặc điểm giống nhau về quy mô, ngành nghề kinh doanh và có mức giá cổ phiếu là tương đương nhau. Tổng quan các nghiên cứu trước đây trên thế giới Miller & Modigliani (1961) đã đề xuất chính sách cổ tức không liên quan đến giá trị doanh nghiệp (irrelevance of dividend policy), theo đó, các nhà đầu tư bàng quan giữa cổ tức và lãi vốn có được từ việc giữ lại lợi nhuận. Trong lý thuyết này, Miller & Modigliani đã lập luận không nhà đầu tư có lý trí nào có sở thích trội hơn giữa cổ tức và lãi vốn. Ngoài ra, trên thị trường còn có giao dịch chênh lệch giá để đảm bảo rằng chính sách cổ tức là không liên quan đến giá trị công ty.
Miller & Modigliani (1961) cho rằng, đối với một nhà đầu tư thì các chính sách cổ tức là như nhau khi họ có thể tạo ra “home-made dividend - cổ tức tự tạo” bằng cách thay đổi danh mục đầu tư theo sở thích của họ. Nhà đầu tư có thể tự trả cổ tức cho mình bằng cách bán các cổ phiếu không trả cổ tức (nếu giá trị công ty tăng lên thì giá cổ phiếu của công ty tăng và tổng vốn của nhà đầu tư vẫn không thay đổi cho dù có bán bớt cổ phiếu). Hoặc nếu NĐT muốn có tiền mặt, họ có thể bán cổ phiếu. Nếu họ không muốn tiền mặt, họ có thể dùng tiền cổ tức nhận được để mua lại cổ phiếu.
Lý thuyết này dựa trên những giả định thị trường vốn là hoàn hảo và hiệu quả (không có thuế, không có chi phí giao dịch, không có chi phí phát hành và chính sách đầu tư độc lập không TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 chịu tác động của chính sách cổ tức). Tiếp tục sau đó, các nghiên cứu sau đó hỗ trợ cho lý thuyết chính sách cổ tức không liên quan đến giá trị doanh nghiệp bao gồm: Black & Scholes (1974) tạo ra 25 danh mục của các cổ phiếu phổ thông trên SGDCK New York (New York Stock Exchange) cho nghiên cứu tác động của chính sách cổ tức lên giá cổ phiếu trong giai đoạn từ 1936 đến 1966. Black & Scholes đã sử dụng mô hình định giá tài sản vốn (CAPM – capital asset pricing model) để kiểm định mối liên hệ giữa chính sách cổ tức và TSSL kỳ vọng. Kết quả chỉ ra, không có sự liên quan giữa chính sách cổ tức và TSSL kỳ vọng, hay không có bằng chứng cho thấy sự khác nhau trong chính sách cổ tức dẫn đến sự khác nhau trong giá cổ phiếu.
Uddin & Chowdhury (2005) lựa chọn mẫu nghiên cứu bao gồm 137 công ty niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán Dhaka – Bangladesh (DSE – Dhaka Stock Exchange) để nghiên cứu mối quan hệ giữa giá cổ phiếu và mức chi trả cổ tức. Kết quả của Uddin & Chowdhury cho thấy, chi trả cổ tức không tạo ra giá trị cho các cổ đông mà thay vào đó cổ đông trải qua mức lỗ khoảng 20% giá trị trong suốt 30 ngày trước khi thông báo chi trả cổ tức tới 30 ngày sau thông báo. Nghiên cứu cho rằng lợi suất cổ tức có thể bồi hoàn một phần giá trị giảm đi này. Nói chung, những phát hiện của Uddin đã hỗ trợ cho lý thuyết chính sách cổ tức không liên quan đến giá trị doanh nghiệp.
Ball, Brown, Finn, & Officer (1979) nghiên cứu về mối quan hệ giữa chính sách cổ tức và giá cổ phiếu tại TTCK Australia trong giai đoạn 1960 đến 1969.