Luận án tiến sĩ ảnh hưởng của chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế đến tính ổn định của lợi nhuận tại các công ty niêm yết trên ttck việt nam

Luận án tiến sĩ phân tích ảnh hưởng của chênh lệch lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế đến tính ổn định lợi nhuận tại công ty niêm yết Việt Nam.

Chuyên ngành

Kế toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

306
1
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

1.1. Các nghiên cứu có liên quan

1.2. Nghiên cứu về tính ổn định của lợi nhuận và của các thành phần trong lợi nhuận

1.2.1. Các nghiên cứu về tính ổn định của lợi nhuận

1.2.2. Các nghiên cứu về tính ổn định của các thành phần trong lợi nhuận

1.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của BTD đến tính ổn định của lợi nhuận và của các thành phần trong lợi nhuận

1.3.1. Nghiên cứu nước ngoài

1.3.2. Nghiên cứu trong nước

1.4. Ảnh hưởng của các nguyên nhân gây ra BTD đến tính ổn định của lợi nhuận và của các thành phần trong lợi nhuận

1.4.1. Nghiên cứu nước ngoài

1.4.2. Nghiên cứu trong nước

1.5. Kết quả đạt được từ các nghiên cứu trước

1.6. Khe hổng nghiên cứu

1.7. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

2.1. Các khái niệm nghiên cứu

2.1.1. Lợi nhuận kế toán

2.1.2. Thu nhập chịu thuế

2.1.3. Tính ổn định của lợi nhuận

2.1.4. Tính ổn định của các thành phần trong lợi nhuận

2.1.5. Các thành phần trong lợi nhuận

2.1.6. Tính ổn định của các thành phần trong lợi nhuận

2.1.7. Chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế

2.1.8. Các nguyên nhân gây ra BTD

2.2. Lý thuyết thông tin hữu ích (Decision usefulness theory)

2.3. Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder theory)

2.4. Lý thuyết đại diện (Agency theory)

2.5. Lý thuyết kế toán thực chứng (Positive accounting theory)

2.6. Xây dựng giả thuyết nghiên cứu

2.6.1. Tính ổn định của lợi nhuận và của các thành phần trong lợi nhuận

2.6.2. BTD ảnh hưởng đến tính ổn định của lợi nhuận

2.6.3. BTD ảnh hưởng đến tính ổn định của các thành phần trong lợi nhuận

2.6.4. Ảnh hưởng của các nguyên nhân gây ra BTD đến tính ổn định của lợi nhuận và của các thành phần trong lợi nhuận

2.6.5. Bối cảnh tại VN

2.7. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Phương pháp nghiên cứu và quy trình nghiên cứu

3.1.1. Phương pháp nghiên cứu

3.1.2. Quy trình nghiên cứu

3.2. Kiểm tra tính ổn định của lợi nhuận và của các thành phần trong lợi nhuận

3.3. Kiểm tra ảnh hưởng của BTD đến tính ổn định của lợi nhuận và của các thành phần trong lợi nhuận

3.4. Phân nhóm các công ty dựa vào nguyên nhân gây BTD

3.5. Kiểm tra các nguyên nhân gây ra BTD đến tính ổn định của lợi nhuận và của các thành phần trong lợi nhuận

3.5.1. Kiểm tra các nguyên nhân gây ra BTD đến tính ổn định của lợi nhuận

3.5.2. Kiểm tra các nguyên nhân gây ra BTD đến tính ổn định của các thành phần trong lợi nhuận

3.6. Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu

3.6.1. Dữ liệu và mẫu quan sát

3.6.2. Dữ liệu bảng

3.6.3. Các bước phân tích dữ liệu

3.7. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Thống kê mô tả

4.2. Kiểm định sự tương quan và đa cộng tuyến

4.2.1. Ma trận tương quan đơn tuyến tính giữa các cặp biến Pearson

4.2.2. Kiểm định đa cộng tuyến trong mô hình

4.3. Kiểm định lựa chọn mô hình nghiên cứu

4.3.1. Lựa chọn mô hình POLS và mô hình FEM

4.3.2. Lựa chọn mô hình POLS và mô hình REM

4.3.3. Lựa chọn mô hình FEM và mô hình REM

4.4. Hiện tượng phương sai thay đổi phần dư trên dữ liệu bảng

4.5. Hiện tượng tự tương quan phần dư trên dữ liệu bảng

4.6. Phân tích kết quả hồi quy

4.7. Kiểm tra tính ổn định của lợi nhuận và của các thành phần trong lợi nhuận

4.8. Kiểm tra ảnh hưởng của BTD đến tính ổn định của lợi nhuận và của các thành phần trong lợi nhuận

4.9. Kiểm tra các nguyên nhân gây ra BTD ảnh hưởng đến tính ổn định của lợi nhuận và của các thành phần trong lợi nhuận

4.10. Thảo luận kết quả nghiên cứu

4.11. KẾT LUẬN CHƯƠNG 4

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ CÁC HÀM Ý QUẢN TRỊ

5.1. Những đóng góp của luận án

5.1.1. Đóng góp về mặt lý thuyết

5.1.2. Đóng góp về mặt thực tiễn

5.2. Một số hàm ý quản trị

5.2.1. Đối với các nhà hoạch định chính sách

5.2.2. Đối với Kế toán trưởng và nhà quản lý

5.2.3. Đối với nhà đầu tư

5.3. Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo

5.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 5

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu

Đề tài nghiên cứu về chênh lệch lợi nhuận kế toánthu nhập chịu thuế đã trở thành một vấn đề quan trọng trong lĩnh vực kế toán và tài chính. Tính ổn định của lợi nhuận là một yếu tố quyết định trong việc đánh giá chất lượng tài chính của doanh nghiệp. Nghiên cứu này nhằm phân tích tác động của chênh lệch lợi nhuận kế toánthu nhập chịu thuế đến tính ổn định của lợi nhuận tại các công ty niêm yết ở Việt Nam. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng chênh lệch lợi nhuận kế toán có thể ảnh hưởng đến khả năng dự đoán lợi nhuận trong tương lai, từ đó ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các bên liên quan.

1.1. Tính cần thiết của nghiên cứu

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, việc áp dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế (IFRS) đã tạo ra nhiều thách thức cho các công ty niêm yết tại Việt Nam. Sự ra đời của Thông tư 200/2014/TT-BTC đã làm thay đổi cách thức lập và trình bày báo cáo tài chính, từ đó ảnh hưởng đến chênh lệch lợi nhuận kế toánthu nhập chịu thuế. Nghiên cứu này không chỉ giúp làm rõ mối quan hệ giữa các yếu tố này mà còn cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà quản lý và nhà đầu tư trong việc đánh giá chất lượng lợi nhuận.

II. Cơ sở lý thuyết

Nghiên cứu này dựa trên các lý thuyết như lý thuyết thông tin hữu ích và lý thuyết đại diện để phân tích mối quan hệ giữa chênh lệch lợi nhuận kế toánthu nhập chịu thuế. Theo lý thuyết thông tin hữu ích, thông tin về chênh lệch lợi nhuận kế toán có thể giúp các nhà đầu tư dự đoán chính xác hơn về lợi nhuận trong tương lai. Hơn nữa, lý thuyết đại diện cho thấy rằng các nhà quản lý có thể điều chỉnh lợi nhuận để đạt được các mục tiêu cá nhân, từ đó ảnh hưởng đến tính ổn định của lợi nhuận. Nghiên cứu này sẽ kiểm tra các giả thuyết về tác động của chênh lệch lợi nhuận kế toán đến tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận.

2.1. Các khái niệm chính

Các khái niệm như lợi nhuận kế toán, thu nhập chịu thuế, và tính ổn định của lợi nhuận sẽ được làm rõ trong phần này. Lợi nhuận kế toán là lợi nhuận được ghi nhận theo các chuẩn mực kế toán, trong khi thu nhập chịu thuế là lợi nhuận được tính theo quy định của pháp luật thuế. Sự khác biệt giữa hai loại lợi nhuận này, được gọi là chênh lệch lợi nhuận kế toán, có thể ảnh hưởng đến cách mà các nhà đầu tư đánh giá chất lượng lợi nhuận của doanh nghiệp.

III. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu bảng để kiểm tra tác động của chênh lệch lợi nhuận kế toán đến tính ổn định của lợi nhuận tại các công ty niêm yết. Dữ liệu sẽ được thu thập từ các báo cáo tài chính của các công ty trong giai đoạn trước và sau khi áp dụng Thông tư 200/2014/TT-BTC. Phương pháp ước lượng bình phương tối thiểu tổng quát (FGLS) sẽ được sử dụng để phân tích mối quan hệ giữa các biến. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách mà chênh lệch lợi nhuận kế toán ảnh hưởng đến tính ổn định của lợi nhuận.

3.1. Quy trình nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu bao gồm các bước thu thập dữ liệu, phân tích và kiểm định giả thuyết. Dữ liệu sẽ được phân loại theo các tiêu chí như chênh lệch lợi nhuận kế toánthu nhập chịu thuế để xác định mối quan hệ giữa chúng. Các mô hình hồi quy sẽ được áp dụng để kiểm tra tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận, từ đó đưa ra các kết luận về tác động của chênh lệch lợi nhuận kế toán đến tính ổn định của lợi nhuận.

IV. Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng chênh lệch lợi nhuận kế toán có tác động đáng kể đến tính ổn định của lợi nhuận tại các công ty niêm yết. Cụ thể, khi chênh lệch lợi nhuận kế toán lớn, tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận sẽ giảm. Điều này cho thấy rằng các công ty có chênh lệch lợi nhuận kế toán lớn có thể đang điều chỉnh lợi nhuận để đạt được các mục tiêu tài chính, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng lợi nhuận mà họ công bố.

4.1. Phân tích kết quả

Phân tích kết quả cho thấy rằng các công ty có chênh lệch lợi nhuận kế toán lớn thường có lợi nhuận ít ổn định hơn. Điều này có thể dẫn đến sự thiếu tin tưởng từ phía các nhà đầu tư và các bên liên quan khác. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các nguyên nhân gây ra chênh lệch lợi nhuận kế toán như điều chỉnh lợi nhuận và tránh thuế đều có ảnh hưởng tiêu cực đến tính ổn định của lợi nhuận.

V. Kết luận và hàm ý quản trị

Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng chênh lệch lợi nhuận kế toán có tác động lớn đến tính ổn định của lợi nhuận tại các công ty niêm yết ở Việt Nam. Các nhà quản lý cần chú ý đến vấn đề này trong quá trình lập báo cáo tài chính để đảm bảo tính minh bạch và chất lượng của lợi nhuận. Đồng thời, các nhà đầu tư cũng nên xem xét chênh lệch lợi nhuận kế toán như một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá chất lượng lợi nhuận của doanh nghiệp.

5.1. Hàm ý cho các bên liên quan

Các nhà hoạch định chính sách cần xem xét việc công bố thông tin về chênh lệch lợi nhuận kế toán để tăng cường tính minh bạch trong báo cáo tài chính. Đối với các nhà đầu tư, việc hiểu rõ về chênh lệch lợi nhuận kế toán sẽ giúp họ đưa ra quyết định đầu tư chính xác hơn. Nghiên cứu này cũng mở ra hướng nghiên cứu mới về tác động của chênh lệch lợi nhuận kế toán đến các yếu tố tài chính khác trong tương lai.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 này, tác giả tập trung tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước theo các dòng nghiên cứu (1) về tính ổn định của LN và của các thành phần trong LN, (2) ảnh hưởng của BTD đến tính ổn định của LN và của các thành phần trong LN, (3) ảnh hưởng của các nguyên nhân gây ra BTD đến tính ổn định LN và tính ổn định của các thành phần trong LN. Sau khi nhận xét những kết quả đạt được từ các nghiên cứu trước, tác giả xác định khe hổng nghiên cứu cho luận án. Các nghiên cứu có liên quan 1. Nghiên cứu về tính ổn định của lợi nhuận và của các thành phần trong lợi nhuận BCTC cung cấp thông tin có giá trị để đánh giá hoạt động và dự đoán lợi tức đầu tư.

Các nhà phân tích và đầu tư thường chú trọng đến LN khi sử dụng các thông tin có trong BCTC. LN được coi là có chất lượng cao khi thể hiện được tính ổn định và có thể sử dụng để dự đoán LN của công ty trong tương lai. Do đó, nhiều bài báo bằng cách tiếp cận định lượng và định tính đã nghiên cứu về vấn đề này. Các nghiên cứu về tính ổn định của lợi nhuận Nghiên cứu nước ngoài Các nghiên cứu thời kỳ trước đa số đều cho rằng sự thay đổi của LN là độc lập 11 và không liên quan giữa các năm với nhau (Ball và Brown, 1969; Ball và Watts, 1972).

Tuy nhiên, bằng cách sử dụng các dữ liệu khác nhau, như dữ liệu chuỗi thời gian và phân tầng mẫu nghiên cứu, Brooks và Buckmaster (1976) đã cho ra kết quả khác biệt, đại diện cho giai đoạn đầu tiên khẳng định LN trong các năm có liên quan với nhau và LN có xu hướng lặp lại giá trị của những năm trước. Tương tự, cũng bằng dữ liệu chuỗi thời gian, các tác giả có thể chứng minh tỷ lệ hoàn vốn (ROR – Rate of Return) (R. Freeman và cộng sự (1982)) hay LN trong quá khứ (Lipe (1990)) có tính ổn định và có thể cung cấp thông tin dự đoán LN trong tương lai. Khi nghiên cứu dữ liệu chéo, R.

Freeman và Tse (1992) lý giải hệ số phản hồi thấp (hay biến động phi tuyến) của LN trong các phương trình hồi quy là do lỗi của các thành phần đại diện cho LN không mong muốn. Ví dụ khi xét theo dữ liệu chuỗi thời gian, các công ty có LN ổn định thấp có thể do quá trình lấy mẫu có thành phần LN không mong muốn làm phát sinh các lỗi dự báo lớn. Kết quả trên cũng trùng với nghiên cứu của Das và Lev (1994). Sau này, Sloan (1996) đã mở rộng các nghiên cứu trước bằng cách sử dụng dữ liệu bảng và khẳng định rằng LN hiện tại có tính ổn định, phản ánh LN tương lai và phụ thuộc vào mối quan hệ giữa độ lớn của thành phần dồn tích và dòng tiền với LN.

Ông cho rằng các khoản dồn tích cao hay thấp bất thường sẽ khiến LN ít ổn định hơn. Ngoài ra, đối với các công ty thua lỗ, LN ít ổn định hơn vì ít nhất ba lý do. Đầu tiên, một khoản lỗ có thể là kết quả của việc ghi nhận các giao dịch dự kiến thua lỗ (Basu, 1997), bao gồm các khoản lỗ chưa thực hiện trong LN hiện tại, công ty chuyển đổi một loạt các giao dịch thua lỗ trong tương lai thành một khoản lỗ tạm thời. Thứ hai, các khoản lỗ cũng có thể là dấu hiệu của các công ty đang thanh lý tài sản, những tài sản này tạo ra tổn thất cho doanh nghiệp (Hayn, 1995).

Và cuối cùng, các khoản lỗ có thể do cú sốc tiêu cực (ví dụ như đình công, thảm họa tự nhiên hoặc thay đổi công nghệ) kèm theo thanh lý tài sản hoặc chi tiêu bằng tiền mặt (Frankel và Litov, 2009). Nếu những cú sốc tiêu cực có khả năng được nhận ra ngay lập tức thì những cú sốc tích cực được nhận ra dần dần theo thời gian, do đó, các khoản lỗ sẽ có xu hướng ít ổn định hơn so với các khoản lãi. 12 Frankel và Roychowdhury (2008) sắp xếp các công ty dựa trên tính kịp thời không đối xứng của LN và thấy rằng các tài khoản đặc biệt (Special items) âm có giá trị lớn có xu hướng kịp thời hơn và ít ổn định hơn. Dichev và Tang (2008) kiểm tra xem biến động LN trong quá khứ có khả năng giải thích sự ổn định cho của LN hiện tại hay không.

Các tác giả kết luận LN sẽ ổn định lâu dài nếu không có các cú sốc kinh tế hay “vấn đề” trong việc xác định LN kế toán. Các phát hiện cũng xác nhận sự ổn định cao hơn của LN phân phối so với tổng LN ròng liên quan đến tiền mặt trả cho các cổ đông (Moienadin và Tabatabaenasab, 2014). Ngoài ra, Doukakis (2010) đã kiểm tra tính ổn định của LN và các thành phần trong LN sau khi áp dụng IFRS, kết quả cho thấy việc phân tách LN thành các thành phần nhỏ có thể cải thiện dự đoán về khả năng sinh lời trong tương lai, đồng thời IFRS không cải thiện tính ổn định của LN và các thành phần trong LN. Ở khía cạnh khác, Govendir và Wells (2014) cung cấp bằng chứng rằng các loại LN có tính ổn định khác nhau.

Nghĩa là LN có khả năng đa dạng về cả bản chất và ý nghĩa của chúng đối với LN trong tương lai, điều này phù hợp với các nghiên cứu xem xét về thuộc tính cung cấp thông tin của LN kế toán. Tuy sử dụng các chỉ tiêu khác nhau như LN từ HĐKD chia cho tổng TS bình quân (Sloan, 1996), ROA (Richardson và cộng sự, 2005; Frankel và Litov, 2009), LN trước thuế (Hanlon, 2005; Blaylock và cộng sự, 2012), LN ròng hay LN phân phối (Moienadin và Tabatabaenasab, 2014)… các nghiên cứu đều dùng phương pháp đo lường tính ổn định của LN bằng cách hồi quy giá trị tương lai trên giá trị hiện tại (Schipper và Vincent, 2003; Patricia M. Dechow và Schrand, 2004; Dichev và Tang, 2008) và kết luận sự tái xuất hiện của LN hiện tại trong LN tương lai hay LN có tính ổn định. Nghiên cứu trong nước Tại VN, một số ít bài báo đề cập đến tính ổn định hoặc các khía cạnh liên quan đến tính ổn định của LN như nghiên cứu của Nguyet (2017) điều tra ảnh hưởng của biến động LN đến khả năng dự đoán LN.

Tác giả nhận thấy mối quan hệ nghịch đảo giữa biến động LN cũng như khả năng dự đoán LN trong cả ngắn hạn và dài hạn, tức là nếu công ty có LN biến động thấp, thì khả năng dự đoán của LN sẽ cao hơn 13 so với công ty có mức biến động cao. Trong trường hợp này, mức độ biến động của LN có thể giúp dự đoán LN trong tương lai. Vinh và Huong (2019) cũng cho thấy đối với các công ty niêm yết phi tài chính VN, công ty nào có cổ phần nước ngoài lớn hơn thì việc công khai tài chính cao hơn. Đặc biệt hơn, các công ty có cổ phần nước ngoài lớn thường có các đặc điểm như (i) điều chỉnh LN thấp hơn; (ii) LN ổn định hơn; và (iii) thông tin về LN cao hơn.

Điều này cho thấy các tổ chức nước ngoài với kỹ năng quản lý sâu rộng có thể hỗ trợ các công ty đầu tư trong việc cải thiện chất lượng công bố chỉ tiêu LN. Hung và Van (2020) đã đo lường chất lượng LN trên nhiều khía cạnh khía cạnh khác nhau. Trong đó, sự điều chỉnh LN, tính ổn định, tính trơn tru (smoothness), tính thay đổi (variability), giá trị thích hợp của thông tin, tính kịp thời có quan hệ cùng chiều với LN cổ phiếu trong khi chất lượng các khoản dồn tích thì liên quan nghịch chiều đến LN cổ phiếu. Nhung và cộng sự (2020) đã nghiên cứu trường hợp các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán trong giai đoạn 2008-2017 nhằm cung cấp hiểu biết tốt hơn về tính ổn định của LN của các doanh nghiệp VN, trường hợp điển hình về nền kinh tế đang phát triển ở Đông Nam Á.

Kết quả cho thấy tính ổn định của LN là yếu tố quyết định đối với dự báo LN trong tương lai và định giá cổ phiếu. Các doanh nghiệp VN có LN ở mức ổn định thấp, LN giữa các ngành có sự phân hóa cao và thay đổi không đồng đều. Trong một số lĩnh vực, các doanh nghiệp quy mô lớn có LN và tốc độ tăng trưởng ổn định. Ngược lại, có những doanh nghiệp quy mô nhỏ, sản xuất kinh doanh không tập trung, LN và tăng trưởng LN thấp, thậm chí thua lỗ (Nhung và cộng sự, 2020).

Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, giai đoạn nghiên cứu của Nhung và cộng sự (2020) từ 2008-2017, các số liệu kế toán bị chi phối bởi Quyết định 15/2006/QĐ-BTC và Thông tư 200 nên dễ xảy ra trường hợp sai lệch trong kết quả nghiên cứu (bias result). Như vậy, có thể thấy giai đoạn đầu trên thế giới, các nghiên cứu kết luận giá trị LN của công ty qua các năm không liên quan với nhau. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu sau này đều chỉ ra rằng LN có tính ổn định, LN năm sau có thể lặp lại LN năm trước. Tính ổn định của LN có thể bị ảnh hưởng bởi các cú sốc kinh tế, 14 công ty làm ăn thua lỗ hay trong việc ghi nhận kế toán… Tại VN, hầu hết các nghiên cứu đều tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến tính ổn định của LN như sự biến động LN, chất lượng LN… Một số ít nghiên cứu về tính ổn định của LN và kết luận rằng LN có tính ổn định thấp, nhưng những nghiên cứu này lại gặp hạn chế trong việc lấy mẫu do ảnh hưởng của các chế độ kế toán áp dụng khác nhau.

Ở một khía cạnh khác, LN được cấu thành bởi hai thành phần là dòng tiền và các khoản dồn tích (Blaylock và cộng sự, 2012; Hanlon, 2005; Sloan, 1996), thông tin về dòng tiền và các khoản dồn tích năm hiện tại có thể dùng để dự đoán LN tương lai Sloan (1996) và ảnh hưởng đến tính ổn định của LN. Trong phần tiếp theo, tác giả sẽ trình bày các nghiên cứu về tính ổn định của các thành phần này trong LN. Các nghiên cứu về tính ổn định của các thành phần trong lợi nhuận Nghiên cứu nước ngoài Mối quan hệ giữa LN và các thành phần trong LN được đề cập lần đầu trong nghiên cứu của Rayburn (1986). Kết quả phân tích dữ liệu chuỗi thời gian đã chứng minh mối quan hệ giữa dòng tiền từ HĐKD và tổng các khoản dồn tích với LN bất thường.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Ảnh hưởng của chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế đến tính ổn định của lợi nhuận tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam" của tác giả Lê Thị Bảo Như, dưới sự hướng dẫn của PGS, TS. Mai Thị Hoàng Minh, nghiên cứu tác động của sự khác biệt giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế đến sự ổn định của lợi nhuận tại các công ty niêm yết. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối quan hệ này mà còn giúp các nhà đầu tư và quản lý doanh nghiệp hiểu rõ hơn về cách thức mà các yếu tố kế toán có thể ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của công ty.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực kế toán và kiểm toán, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ: Hoàn thiện công tác kế toán doanh thu và chi phí đóng tàu tại Tổng công ty Sông Thu, nơi nghiên cứu về việc hoàn thiện quy trình kế toán trong một lĩnh vực cụ thể. Bên cạnh đó, Nghiên cứu ảnh hưởng của chất lượng kiểm toán nội bộ đến hành vi quản trị lợi nhuận tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam cũng là một tài liệu hữu ích, giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của kiểm toán trong việc quản lý lợi nhuận. Cuối cùng, Nghiên cứu các nhân tố tác động đến kế toán trách nhiệm và hiệu quả hoạt động trong ngành dệt may Việt Nam sẽ cung cấp thêm thông tin về các yếu tố ảnh hưởng đến kế toán và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn mở rộng kiến thức mà còn cung cấp nhiều góc nhìn khác nhau về các vấn đề liên quan đến kế toán và quản trị tài chính.