Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 TỔNG QUAN VỀ CẠNH TRANH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1.1 Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh là một thuật ngữ rất phổ biến trong kinh tế, là một đặc trưng của nền kinh tế sản xuất hàng hóa và là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau.Vì vậy chúng ta có thể nhìn nhận cạnh tranh theo những cách riêng của mình. Theo quan điểm kinh doanh, các nhà kinh tế học cho rằng: “Cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất”. Theo hai nhà kinh tế học Mỹ P.Nordhaus thì cho rằng: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng hoặc thị trường”. Hai tác giả này cho cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition).
Môi trường cạnh tranh hoàn hảo là ngành trong đó mọi người đều tin rằng hành động của họ không gây ảnh hưởng tới giá cả thị trường, phải có nhiều người bán và nhiều người mua (theo D. Các tác giả trong cuốn "Các vấn đề pháp lý về thể chế và chính sách cạnh tranh kiểm soát độc quyền kinh doanh, thuộc dự án VIE/97/016” thì cho rằng:“Cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 việc giành một số nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường, để đạt đựơc một mục tiêu kinh doanh cụ thể, ví dụ như lợi nhuận, doanh số hoặc thị phần. Cạnh tranh trong một môi trường như vậy đồng nghĩa với ganh đua”. Tuy nhiên, những mục tiêu này mới chỉ đúng trong phạm vi doanh nghiệp.
Mục tiêu cạnh tranh xét trên tầm vĩ mô còn phải kể đến khả năng tạo thêm thu nhập, việc làm và nâng cao phúc lợi cho người dân. Theo Michael Porter thì cho rằng: “Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả của quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả là giá cả có thể giảm đi”.
Từ sự phân tích như trên có thể thấy cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế với nhau thông qua các hành động và sự phấn đấu cùng với những biện pháp, chiến lược khác nhau để giành được những lợi thế nhất định trên thương trường, như ưu thế về thị phần, danh tiếng và lợi nhuận so với đối thủ. Trên cơ sở đó có thể đưa ra khái niệm tổng quát về cạnh tranh như sau: “Cạnh tranh là phạm trù chỉ quan hệ kinh tế theo đó các chủ thể kinh tế huy động tất cả các nguồn lực, sử dụng những phương pháp tối ưu nhất nhằm giành được những mục tiêu kinh tế và mang lại hiệu quả cao nhất”.2 Phân loại cạnh tranh Căn cứ vào tính chất cạnh tranh, cạnh tranh được phân thành 3 loại - Cạnh tranh hoàn hảo: Cạnh tranh hoàn hảo phải hội đủ những điều kiện sau: thứ nhất, có nhiều doanh nghiệp và số doanh nghiệp này phải đủ lớn; thứ hai, các sản phẩm sản xuất ra có thể được thay thế bằng nhiều sản phẩm khác; thứ ba, người mua và người bán phải nắm được thông tin thực tế về giá cả sản phẩm trên thị trường; thứ tư, có thể tự do gia nhập và xuất khỏi ngành mà không có sự khuyến khích nào đối với sự cấu kết TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 của các doanh nghiệp hiện hành. Nói cách khác, đây là hình thức cạnh tranh giữa nhiều người bán trên thị trường trong đó không người nào có đủ ưu thế khống chế giá cả trên thị trường. Các sản phẩm bán ra đều được người mua xem là đồng thức, tức là không khác nhau về quy cách, phẩm chất mẫu mã.
- Cạnh tranh độc quyền: Trên thị trường chỉ có một hoặc một số ít người bán một sản phẩm hoặc dịch vụ vào đó, giá cả của sản phẩm hoặc dịch vụ đó trên thị trường sẽ do họ quyết định không phụ thuộc vào quan hệ cung cầu. Một sự cạnh tranh độc quyền khi thỏa mãn các điều kiện sau: Một là, những đối thủ cạnh tranh không thể gia nhập ngành. Doanh nghiệp hoàn toàn không có đối thủ cạnh tranh, do đó có thể định giá hay sản lượng bán ra mà không cần e ngại các doanh nghiệp khác nhập ngành. Hai là, không có sản phẩm thay thế tương tự.
Nếu không có sản phẩm thay thế tương tự sản phẩm của mình, nhà độc quyền không lo ngại về phản ứng của các doanh nghiệp cung ứng những sản phẩm dịch vụ khác bởi vì những sản phẩm đó hầu như không thể thay thế cho sản phẩm và dịch vụ của nhà độc quyền. - Cạnh tranh không hoàn hảo: Là hình thức cạnh tranh giữa những người bán có các sản phẩm không đồng nhất với nhau. Mỗi sản phẩn đều mang hình ảnh hay uy tín khác nhau hay có thể dễ thay thế cho nhau và mỗi doanh nghiệp chỉ có khả năng hạn chế ảnh hưởng tới giá của mình. Từ khái niệm trên chúng ta có thể rút ra hai đặc điểm của cạnh tranh không hoàn hảo: Thứ nhất, có sự tự do gia nhập ngành.
Các doanh nghiệp mới có thể tự do nhập ngành nếu thấy ngành này đang sinh lời cao hay tự do rút khỏi ngành nếu thấy ngành này không còn khả năng sinh lời. Sự nhập và xuất ngành bảo đảm cho ngành luôn có một lượng doanh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 nghiệp nhất định, do vậy có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong việc định giá và thay thế sản phẩm. Thứ hai, các doanh nghiệp cạnh tranh bằng việc bán ra các sản phẩm riêng biệt. Các sản phẩm này thay thế cho nhau ở mức độ cao nhưng không phải ở mức độ hoàn toàn.
Một khi sản phẩm của mình định giá quá cao thì người ta sẵn sàng chuyển sang sử dụng sản phẩm khác. Do vậy, các doanh nghiệp có thể chi phối các sản phẩm của mình ở một mức độ giới hạn. Trong thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, mỗi doanh nghiệp bán ra các sản phẩm riêng biệt để phục vụ cho phân khúc thị trường riêng; do đó, để giành được ưu thế trong cạnh tranh, người bán phải sử dụng các công cụ hỗ trợ bán như: Quảng cáo, khuyến mại, cung cấp dịch vụ, ưu đãi giá cả, tạo ra sản phẩm riêng biệt… đây là loại hình cạnh tranh phổ biến trong giai đoạn hiện nay.3 Các phương pháp đo lường cạnh tranh 1.1 Phương pháp truyền thống Đo lường cạnh tranh dựa trên mô hình cấu trúc thị trường tác động đến hiệu quả SCP (Structure- Conduct- Performance). Ý tưởng cơ bản là các ngân hàng có thị phần lớn thì sức mạnh thị trường càng lớn và do đó hiệu quả cao.
Mô hình này sử dụng chỉ số Hirschman-Heerfindaf và thường được đo lường bằng thị phần của 5 ngân hàng lớn nhất thị trường hoặc mức độ tập trung của thị trường.2 Phương pháp mới Đo lường cạnh tranh thông qua hành vi của các ngân hàng khi có thêm đối thủ cạnh tranh gia nhập ngành.1 Phương pháp của Bresnahan (1982) và Lau (1982) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Phương pháp này đo lường cạnh tranh ở mức độ toàn ngành thông qua việc phân tích hành vi của ngân hàng trong điều kiện thị trường cân bằng. Trong môi trường cạnh tranh hoàn hảo, các ngân hàng sẽ tối đa hóa lợi nhuận thông qua việc định giá và lượng sản phẩm sao cho chi phí biên bằng lợi nhuận biên. Sự chênh lệch giữa giá và chi phí biên phản ánh mức độ cạnh tranh. Nếu chênh lệch bằng 1 thì thị trường là cạnh tranh hoàn hảo.
Trong thời gian gần đây phương pháp này được sử dụng trong nghiên cứu của Bikker (2003), Uchida và Tsutsui (2005).2 Phương pháp của Panzar và Rosse (1987) Phương pháp này đề xuất đo lường cạnh tranh thông qua H-statistic được tính bằng tổng của độ co dãn của thu nhập theo giá các yếu tố đầu vào. H-statistic nằm trong khoảng -∞ đến 1. Giá trị của H nhỏ hơn hoặc bằng 0 cho thấy thị trường độc quyền, nằm trong khoảng 0 và 1 thì phản ánh thị trường cạnh tranh. H bằng 1 cho thấy thị trường cạnh tranh hoàn hảo.
Phương pháp này đã được áp dụng cho tất cả các quốc gia ở Châu Âu trong nghiên cứu của Bikker và Haaf (2002). Phương pháp này đo lường cạnh tranh ở mức độ toàn ngành.3 Chỉ số Lerner Một chỉ báo đo lường sức mạnh thị trường và được sử dụng chủ yếu trong việc đo lường cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng là chỉ số Lerner. Nó thể hiện khả năng mà một công ty có thể định giá cao hơn chi phí biên (MC). Chỉ số Lerner cho thấy sức mạnh thị trường của công ty nằm trong khoảng nào giữa mức cạnh tranh hoàn hảo và mức cạnh tranh độc quyền, và vai trò của độ giãn của cầu đối với khả năng tăng giá của công ty.
- Ưu nhược điểm của chỉ số Lerner Đầu tiên, giá trị của chỉ số Lerner bị ảnh hưởng bởi quan điểm đo lường lợi nhuận và chi phí. Do đó, nó không thể chỉ tập trung vào lợi nhuận và chi phí tài TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 chính mà bỏ qua lợi nhuận và chi phí giao dịch khác. Đối với các tổ chức tín dụng truyền thống chỉ gồm hoạt động cho vay và nhận tiền gửi, mô hình này sẽ không xét đến các hoạt động dịch vụ của ngân hàng. Sự gia tăng của hoạt động dịch vụ những năm gần đây dẫn đến sự thay đổi cấu trúc tài chính của các ngân hàng, lợi nhuận ròng từ hoạt động tài chính bị giảm đi, trong khi lợi nhuận từ các hoạt động dịch vụ lại tăng lên.
Thứ hai, mô hình này không quan tâm đến chi phí của rủi ro, mặc dù rủi ro tác động rất lớn vào lợi nhuận và gây tổn thất cho hệ thống ngân hàng. Có nhiều nguyên nhân của việc không quan tâm đến chi phí này là do: việc thiếu dữ liệu, khó khăn trong việc tính toán và khó khăn trong việc xác định thời điểm xảy ra chi phí rủi ro do chi phí này thường xuất hiện ở một thời điểm nhất định trong quá trình đầu tư.