Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Họ Vượn - Hylobatidae Họ Vượn bao gồm các loài thú cỡ nhỏ và cỡ trung bình (chiều dài cơ thể từ 38-65cm), không có đuôi, tay dài quá đầu gối. Bộ lông cá thể đực màu đen, cá thể cái có màu vàng tươi hoặc vàng nhạt (Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009)[7]. Tất cả các loài Vượn đều phát ra tiếng hót rất lớn vào buổi sáng sớm.
Tiếng hót của Vượn mang đặc trưng giới (đực và cái).Ở hầu hết các loài, mỗi cặp đực và cái thường phối hợp tiếng hót với nhau. Chức năng chủ yếu của tiếng hót để xác lập vùng lãnh thổ của mình, thu hút bạn tình và duy trì mối quan hệ gia đình (Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009)[7]. Các nghiên cứu trước đây về phân loại Vượn chia thành hai nhóm: Symphalangusvà Hylobates.Sự khác nhau dễ nhận thấy là nhóm Symphalangus nặng hơn và chúng có giọng hót sâu hơn, có bao cổ họng bên ngoài và màng chân giữa các ngón 2 và 3. Hiện nay các nghiên cứu về di truyền học, các đặc điểm giải phẫu xương sọ và âm thanh đã phân họ Vượn thành các giống Symphalangus có bộ nhiễm sắc thể 2n = 50, giống Nomascus có bộ nhiễm sắc thể 2n = 52 giống Bunopithecus có 2n = 38 và giống Hylobates có 2n = 44 (Geissmann và cs, 2000)[8].
Thú họ Vượn phân bố ở hầu khắp các khu rừng nhiệt đới Đông Nam Á. Ở Việt Nam, chỉ có giống duy nhất là giống Vượn mào (Nomascus). Vượn mào nặng khoảng 7-8kg. Vượn đực có mình đen, đỉnh đầu có chóp lông nhọn, cao (mào).
Dương vật có mấu xương dài (8-12mm) và thường có mấu ở đầu. Vượn cái màu vàng tươi hoặc vàng nhạt, trên đỉnh đầu có đám lông đen. Lông trên đỉnh đầu mọc thẳng đứng nhưng không tạo thành mào. Con non mới sinh, cả con đực và cái đều có màu vàng sáng, gần giống với màu lông của Vượn cái trưởng thành.
Đến một năm tuổi hoặc sang năm tuổi thứ 2, bộ lông chuyển sang màu đen giống lông của 4 vượn đực trưởng thành. Riêng Vượn cái mang bộ lông đen cho đến khi chuẩn bị trường thành sinh dục (5-8 tuổi) mới đổi sang màu vàng đặc trưng của Vượn cái trưởng thành (Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009)[7]. Cũng giống như theo phân loại học về thú Linh trưởng, các tác giả khác nhau cũng đưa ra những quan điểm khác nhau về số lượng loài thuộc giống Nomascus. Theo Thomas Geissmann và cộng sự (2000)[8], giống Nomascusbao gồm 5 loài: 1.
Vượn đen (chưa định tên) Nomascus. Vượn đen tuyền (Nomascus concolor) 3. Vượn má trắng siki (N. gabriellae) Theo Văn Ngọc Thịnh và cộng sự (2010)[53]tại Việt Nam có 6 loài thuộc giống Nomascus được liệt kê gồm: Tên Việt Nam Tên Khoa học 1.
Vượn đen tuyền/ Vượn đen tuyền tây bắc Nomascus concolor 2. Vượn đen cao vít/ Vượn đen tuyền đông bắc Nomascus nasutus 3. Vượn đen má trắng Nomascus leucogenys 4. Vượn siki Nomascus siki 5.
Vượn má vàng phía bắc/ Vượn trường sơn Nomascus annamensis 6. Vượn má vàng phía nam Nomascus gabriellae Vùng phân bố của giống Nomascus Các loài Vượn phân bố ở khắp các khu vực rừng mưa nhiệt đới Đông Nam Á, trong khi các loài Vượn mào (giống Nomascus) chỉ phân bố ở Đông Dương và phía Nam Trung Quốc.Còn phía Tây của sông Mekong lại là vùng phân bố của một nhánh khác thuộc giống Hylobates.1: Phân bố của các loài Vượn thuộc giống Nomascus (Nguồn: Văn Ngọc Thịnh và cs, 2010) Có thể thấy, vùng phân bố của các loài Vượn là một khu vực rộng lớn và liên tục, có lẽ đây là khu vực phân bố ban đầu của chúng.Tuy nhiên, do hậu quả của việc mất sinh cảnh, cũng như nạn săn bắt của con người, nên vùng phân bố của chúng bị chia cắt mạnh.Hiện nay, các loài Vượn chỉ còn sót lại tại một số mảng rừng nguyên sinh, ít tác động của con người.Các trạng thái này hiện khá biệt lập và có diện tích rất nhỏ. Đề tài đã chọn đối tượng nghiên cứu là hai loài Vượn đen má trắng (VĐMT) và Vượn má vàng phía nam (VMVPN). Cả hai loài đều là loài Vượn quý hiếm của khu vực Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng.Số lượng các cuộc điều tra thực địa và dữ liệu ghi nhận về hai loài Vượn này khá phong phú, đảm bảo dữ liệu được đầy đủ và chính xác.Bên cạnh đó, loài VĐMT có vùng phân bố ở miền Bắc của Việt Nam, loài VMVPN có phân bố chủ yếu ở miền Nam Việt Nam.Việc lựa chọn 2 loài này làm đối tượng nghiên cứu sẽ giúp cho đề tài đánh giá được ảnh hưởng của BĐKH trên diện diện tích rộng lớn hơn.
6 Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys Ogilby, 1840) VĐMT có chiều dài thân: 57-62,5cm; khối lượng: 7-12 kg (Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009)[7]. Đầu có mào lông.Cá thể đực trưởng thành có đen tuyền từ hai má có đám lông trắng lớn. Đám lông trắng có đỉnh nhọn kéo ngang tới vành tai, nhưng gốc không chạm đến mép. Vượn cái trưởng thành có màu vàng hoặc nâu sẫm, không có chòm lông đen ở bụng; trên đỉnh đầu có đám lông nâu tối hình ô van dài, quanh đĩa mặt có vòng lông trắng.
Con non màu vàng nhạt. Vượn sống trong các khu rừng cây cao, núi đất hoặc núi đá; thức ăn chủ yếu là quả và hạt, một phần khác là côn trùng, trứng chim…VĐMT phân bố ở Lào, Việt Nam và phía nam của Trung Quốc (Nadler & Brockman, 2014)[41]. Tình trạng bảo tồn: - Sách đỏ Việt Nam (2007): Nguy cấp (EN). - Nghị định 32/2006: Mục IB.2: Vượn đen má trắng (cá thể đực) (Nguồn: arkive.org) Vượn má vàng phía nam (Nomascus gabriellae Thomas, 1909) Vượn má vàng phía nam (VMVPN) có chiều dài thân: 38-47cm; khối lượng: 6-10 kg (Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009)[7].
Vượn đực có mình đen, ở má có đám lông vàng nhạt hoặc nâu lớn, tỏa ra ngoài như quạt nan. Đám lông vàng này có đỉnh tròn và chỉ đặt đến gần ngang ½ vành tai. Lông vùng bụng màu nâu nhạt. Vượn cái có lưng và tay màu sẫm hoặc vàng cam, đỉnh đầu có đám lông màu đen hình tam giác, mặt vàng nhạt ít khi có vòng trắng, bụng không có đám đen; lông ở má chĩa ra 2 bên như quạt nan xòe.
VMVPN sống ở các khu rừng kín thường xanh và bán thường xanh nguyên sinh hoặc thứ sinh, nhiều cây cao; thức ăn gồm quả, chồi lá cây, côn trùng…Phân bố ở Campuchia, Việt Nam (Nadler &Brockman, 2014)[41]. 7 Tình trạng bảo tồn: - Sách đỏ Việtt Nam (2007): Nguy cấp c (EN). - Nghị định 32/2006: IB.3: Vượnmá má vàng phía nam (Nguồn: arkive. Nghiên cứu ảnh hư ưởng của BĐKH tới vùng phân bố ố của các loài lo động vật hoang dã và với các loài ài Vượn Phần ần mềm MaxEnt là l mô hình rất ất phổ biến trong xây dựng mô hhình ổ sinh thái (phân bố) ố) của các loài, lo đã được hàng nghìn đề tài ứng dụng (Warrenvà Warrenvà Seifert Seifert, 2011) [22]… Hiện ện nay, trên tr thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu ứu sử dụng mô hhình ổ sinh thái để nghiên cứu ứu về v vùng phân bố tiềm năng của các loài ài trong đó có cả c các loài động vật và thực ực vật.D đây là một số nghiên cứu về mô hình ình ổ sinh thái đã được tiến hành có những ững nét ttương đồng với nghiên cứu này.
Zonneveld và cộng ộng sự đã đ tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng ởng của BĐKH đến phân bố tự nhiên của ủa các loài lo Thông nhựa và Thông ba lá ở khu vực Đông Nam Á (chủ yếu là ở Việt Nam, Lào, Lào, Thái Lan, Campuchia và Mianma). Trong nghiên ccứu này, các tác giả đã sử ử dụng mô h hình MaxEnt cùng với ới các dữ liệu gồm 19 biến sinh khí hậu và dữ ữ liệu về sự có mặt của các đối tượng t nghiên cứu ứu để đánh giá sự thay đổi vùng phân bố dưới ới tác động của BĐKH (Zonneveld và cs, 2009 2009)[58]. Kết quả của mô hình đã chỉỉ ra sự thay đổi đổ về vị trí vùng phân bốố thích hợp vvà sự thu hẹp lại diện tích thích hợp của các đối tượng nghiên cứu. Nghiên cứu về vùng ùng phân b bố tiềm năng dựa trên mô hình ổ sinh thái của các loài động vật cũng đã được đư tiến hành.Gormley và cộng ộng sự (2011)[28], (2011)[28 đã tiến hành nghiên cứu vùng phân bố ố hiện tại và v vùng phân bố ố tiềm năng của lo loài Nai (Cervus unicolor) dựa trên ên các dữ d liệu về sự có mặt và dữ ữ liệu về sự vắng mặt tại bang Victoria của ủa Australia.
Các tác giả cũng đã đ sử ử dụng phần mềm MaxEnt để mô hình h 8 hóa vùng phân bố của đối tượng nghiên cứu. Ngoài các biến về khí hậu, các tác giả đã sử dụng các biến liên quan đến ổ sinh thái của loài như lớp phủ thảm thực vật, độ dốc, khoảng cách đến đường giao thông…điều này sẽ giúp cho tăng độ chính xác của mô hình hơn. Tại Việt Nam, các nghiên cứu về vùng phân bố của các loài chưa nhiều.Hiện nay, Việt Nam chưa có nghiên cứu về sự ảnh hưởng của BĐKH đến vùng phân bố của các loài Vượn. Về các loài linh trưởng khác, Vũ Văn Mạnh và cộng sự (2010)[55] đã tiến hành nghiên cứu vùng phân bố của loài Vọoc mũi hếch tại miền Bắc của Việt Nam theo một số kịch bản BĐKH.
Các tác giả cũng đã sử dụng 19 biến sinh khí hậu (Bioclim) cùng với phần mềm DIVA-GIS để mô hình hóa vùng phân bố của đối tượng nghiên cứu theo các kịch bản khí hậu. Kết quả của mô hình cho thấy, vùng phần bố tiềm năng của loài Vọoc mũi hếch có xu hướng thu hẹp lại và dịch chuyển về phía Bắc. Vùng phân bố này cần phải được so sánh với lớp bản đồ trạng thái rừng để chính xác hơn. Bên cạnh đó, điểm hạn chế của phần mềm DIVA-GIS là cần phải sử dụng dung lượng mẫu lớn.
Mô hình ổ sinh thái Mô hình ổ sinh thái (ENMs) là phương pháp sử dụng các dữ liệu ghi nhận vị trí xuất hiện của loài tại thời điểm hiện tại kết hợp với dữ liệu môi trường, từ đó tạo ra các mô hình tương ứng với các điều kiện môi trường đáp ứng được yêu cầu sinh thái của loài và dự đoán khu vực thích hợp với loài. ENMs thường được sử dụng bởi cácmục đích sau: (1) đánh giá/ước tính các khu vực có điều kiện thích hợp với loài;(2) đánh giá sự thay đổi vùng phân bốcủa loài trong khoảng thời gian nhất định dựa trên các kịch bản về sự thay đổi điều kiện môi trường; (3) đánh giá các ổ sinh thái hay các yêu cầu sinh thái của các loài (Warren và Seifert, 2011)[22].