Suy kiệt tài chính và hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp bất động sản được niêm yết trên sàn chứng khoán hose tại việt nam

Nghiên cứu về ảnh hưởng của suy kiệt tài chính đến hành vi tránh thuế của doanh nghiệp bất động sản niêm yết trên sàn HOSE tại Việt Nam. Phân tích và kết quả.

Trường đại học

Học viện Ngân hàng

Chuyên ngành

Tài chính

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2024

77
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

LỜI MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Mục đích nghiên cứu

0.3. Mục tiêu chung của nghiên cứu

0.4. Mục tiêu cụ thể

0.5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5.1. Đối tượng nghiên cứu

0.5.2. Phạm vi nghiên cứu

0.6. Câu hỏi nghiên cứu

0.7. Phương pháp nghiên cứu

0.8. Kết cấu nghiên cứu

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA SUY KIỆT TÀI CHÍNH ĐẾN HÀNH VI TRÁNH THUẾ CỦA DOANH NGHIỆP

1.1. Tổng quan về hành vi tránh thuế

1.1.1. Khái niệm về thuế

1.1.2. Khái niệm về thuế thu nhập doanh nghiệp

1.1.3. Hành vi tránh thuế

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Suy Kiệt Tài Chính Doanh Nghiệp BĐS 55

Bài viết này đi sâu vào nghiên cứu về suy kiệt tài chính và hành vi tránh thuế doanh nghiệp bất động sản niêm yết trên sàn HOSE. Ngành bất động sản đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, đóng góp đáng kể vào GDP. Tuy nhiên, ngành này cũng dễ bị tổn thương bởi các biến động kinh tế vĩ mô. Các chính sách thắt chặt tín dụng và trái phiếu doanh nghiệp có thể dẫn đến tình trạng doanh nghiệp bất động sản thua lỗ và thậm chí là nguy cơ phá sản doanh nghiệp bất động sản. Nghiên cứu này nhằm mục đích tìm hiểu mối liên hệ giữa suy kiệt tài chính và hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp này, từ đó đưa ra các khuyến nghị cho nhà quản lý và cơ quan quản lý. IMF đã đề cập đến việc các doanh nghiệp khó khăn về tín dụng có thể tăng cường tránh thuế trong thời kỳ khủng hoảng. Nghiên cứu này sẽ làm sáng tỏ vấn đề này trong bối cảnh thị trường bất động sản Việt Nam.

1.1. Tầm Quan Trọng của Ngành Bất Động Sản Với Nền Kinh Tế

Ngành bất động sản đóng vai trò vô cùng quan trọng, là nhân tố then chốt góp phần thu hút dòng vốn đầu tư và là đầu kéo giúp nhiều ngành khác cùng tăng trưởng. Với tình hình phát triển mạnh mẽ, ngành bất động sản hằng năm đóng góp khoảng 8 - 10% GDP của Việt Nam trong những năm gần đây.

1.2. Khủng Hoảng COVID 19 và Ảnh Hưởng Đến Bất Động Sản

Đại dịch Covid - 19 đã khiến ngành nhạy cảm với sự biến động của nền kinh tế vĩ mô như bất động sản phải chịu những tổn thất nặng nề. Trong quý I/2020, mặc dù giá trị vốn hóa cao nhưng đã xảy ra sự sụt giảm đáng kể về lượng cung và cầu, tỷ lệ thanh khoản thấp, cùng với các vấn đề về dự đoán gây ra sự ngưng trệ trong nguồn cung.

II. Hiểu Rõ Tránh Thuế Doanh Nghiệp Tổng Quan và Bản Chất 58

Để hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa suy kiệt tài chính và hành vi tránh thuế, cần có một cái nhìn tổng quan về khái niệm và bản chất của tránh thuế doanh nghiệp. Tránh thuế là một chiến lược quản trị doanh nghiệp, sử dụng các phương pháp khai thác các lỗ hổng trong các quy định về thuế để giảm thiểu số thuế phải nộp một cách hợp pháp. Các doanh nghiệp có thể tận dụng các khoản chi phí hợp lý, cấu trúc lại các giao dịch hoặc sử dụng các ưu đãi thuế để giảm nghĩa vụ thuế. Tuy nhiên, hành vi tránh thuế có thể dẫn đến xung đột lợi ích giữa nhà quản lý và cổ đông, khi nhà quản lý không hành động vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cho toàn bộ các cổ đông.

2.1. Định Nghĩa và Phương Pháp Tránh Thuế Phổ Biến

Tránh thuế được biết đến như một chiến lược quản trị doanh nghiệp, sử dụng các phương pháp khai thác các lỗ hổng trong các quy định về thuế để tránh khoản thuế phải nộp một cách hợp pháp (Desai & Dharmapala, 2006; Rego, 2003). Theo Armstrong, Blouin, Jagolinzer và Larcker (2015), tránh thuế là nỗ lực có chủ ý nhằm giảm thiểu số thuế phải nộp, bằng cách tìm kiếm các lỗ hổng pháp lý để ám chỉ hành động của họ không vi phạm pháp luật và các quy định trong lĩnh vực liên quan.

2.2. Mối Liên Hệ Giữa Tránh Thuế và Quản Trị Doanh Nghiệp

Theo lý thuyết đại diện, có những lúc người quản lý không hành động vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cho toàn bộ các cổ đông dẫn đến xung đột về lợi ích giữa nhà quản lý và cổ đông. Tuy nhiên, bởi vì tránh thuế thường bao gồm các hành động che khuất bản chất của giao dịch do c...

III. Suy Kiệt Tài Chính Ảnh Hưởng Ra Sao Đến Tránh Thuế 52

Khi một doanh nghiệp đối mặt với suy kiệt tài chính, áp lực giảm chi phí và tăng lợi nhuận trở nên cấp thiết. Trong bối cảnh đó, hành vi tránh thuế có thể trở thành một công cụ để cải thiện tình hình tài chính ngắn hạn. Tuy nhiên, cần xem xét cẩn thận giữa tránh thuế hợp pháptrốn thuế, vì các hành vi vi phạm pháp luật có thể gây hậu quả nghiêm trọng. Nghiên cứu này sẽ khám phá xem suy kiệt tài chính có thực sự thúc đẩy các doanh nghiệp bất động sản niêm yết HOSE thực hiện hành vi tránh thuế hay không.

3.1. Áp Lực Tài Chính Thúc Đẩy Hành Vi Tránh Thuế

Suy kiệt tài chính đề cập đến việc một doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc trả nợ hoặc đáp ứng các nghĩa vụ trả nợ khác (Ghazali và cộng sự, 2015). Trong nhiều nghiên cứu trước đây đã chứng minh rằng nhà quản lý công ty trong giai đoạn suy kiệt tài chính có xu hướng điều chỉnh việc ghi nhận doanh thu, chi phí, các khoản nợ và khoản phải thu, hoặc nói cách khác là động cơ quản trị thu nhập nhằm tối thiểu hóa chi phí nộp thuế.

3.2. Phân Biệt Tránh Thuế Hợp Pháp và Trốn Thuế Bất Hợp Pháp

Cần phân biệt rõ hành vi tránh thuế hợp pháptrốn thuế bất hợp pháp. Tránh thuế là tận dụng các kẽ hở pháp lý, trong khi trốn thuế là vi phạm luật pháp để giảm nghĩa vụ thuế. Các doanh nghiệp cần tuân thủ pháp luật và các quy định về thuế để tránh các rủi ro pháp lý.

3.3. Nghiên Cứu Trước Đây Về Mối Quan Hệ Này

Tại các quốc gia phát triển, việc tiến hành nghiên cứu về mối tương quan giữa suy kiệt tài chính và hành vi tránh thuế đã được thực hiện từ rất sớm. Ở Việt Nam, Phillips và cộng sự (2003) cung cấp mối liên hệ giữa sự tồn tại của thu nhập và tránh thuế; Nguyễn Vĩnh Khương (2019), bằng chứng thực nghiệm về mối tương quan giữa suy kiệt tài chính và tránh thuế giữa tất cả các lĩnh vực, nhưng chưa có nghiên cứu nào thực trên trên từng nhóm ngành riêng lẻ.

IV. Phương Pháp Nghiên Cứu Suy Kiệt Và Tránh Thuế BĐS 57

Để đánh giá tác động của suy kiệt tài chính đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp bất động sản niêm yết HOSE, nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng. Dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính hợp nhất kiểm toán của 58 doanh nghiệp bất động sản niêm yết HOSE trong giai đoạn 2019-2023. Phần mềm STATA 17 được sử dụng để xử lý dữ liệu và kiểm định mô hình.

4.1. Nguồn Dữ Liệu và Phạm Vi Nghiên Cứu

Phạm vi không gian: đại diện 58 doanh nghiệp thuộc ngành bất động sản niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh (HOSE). Phạm vi thời gian: Nghiên cứu tiến hành dựa trên dữ liệu báo cáo tài chính được công bố công khai của các doanh nghiệp ngành bất động sản niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán HOSE trong giai đoạn 5 năm từ năm 2019 - 2023.

4.2. Mô Hình Nghiên Cứu và Các Biến Số Sử Dụng

Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để đánh giá tác động của suy kiệt tài chính tới hành vi tránh thuế. Cụ thể, tác giả tiến hành thu thập dữ liệu và xử lí các số liệu dựa vào báo cáo tài chính hợp nhất kiểm toán của 58 doanh nghiệp bất động sản niêm yết trên sàn chứng khoán HOSE trong khoảng thời gian 5 năm từ năm 2019 - 2023. Sau đó, tác giả sử dụng phần mềm STATA 17 để mô tả dữ liệu và kiểm định mô hình để từ đó đưa ra kết quả hồi quy chính xác nhất.

V. Kết Quả Nghiên Cứu Tác Động Thực Tế Của Suy Kiệt 54

Nghiên cứu này sử dụng phần mềm STATA 17 để phân tích dữ liệu và đánh giá tác động của suy kiệt tài chính đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp bất động sản niêm yết HOSE. Kết quả phân tích cho thấy một số phát hiện quan trọng về mối quan hệ giữa các biến số tài chính và hành vi tránh thuế trong ngành bất động sản. Từ những kết quả này, có thể đưa ra những khuyến nghị hữu ích cho các nhà quản lý và cơ quan quản lý để cải thiện quản trị tài chính và chính sách thuế.

5.1. Thống Kê Mô Tả Các Biến Số Quan Trọng

Thống kê mô tả các biến sử dụng trong mô hình nghiên cứu. Thống kê số lượng doanh nghiệp theo chỉ số Z’’. Mối tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu. Kiểm định đa cộng tuyến. Kết quả hồi quy của 3 mô hình OLS, FEM, REM

5.2. Thảo Luận Về Kết Quả Phân Tích và Ý Nghĩa

Thảo luận kết quả nghiên cứu. Kết quả kiểm định Hausman - test. Kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi. Kết quả kiểm định hiện tượng tự tương quan. Tổng hợp kết quả liên quan đến kiểm định khuyết tật. Kết quả mô hình GLS

VI. Kết Luận Khuyến Nghị Tài Chính BĐS Bền Vững 55

Nghiên cứu này đưa ra những kết luận quan trọng về mối liên hệ giữa suy kiệt tài chính và hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp bất động sản niêm yết HOSE. Từ những kết luận này, có thể đưa ra những khuyến nghị hữu ích cho các nhà quản lý và cơ quan quản lý để cải thiện quản trị tài chính và chính sách thuế. Đồng thời, cũng cần xem xét những hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu trong tương lai.

6.1. Tóm Tắt Kết Quả Nghiên Cứu và Bài Học Rút Ra

Khóa luận nghiên cứu về mức độ ảnh hưởng của suy kiệt tài chính tới hành vi tránh thuế của doanh nghiệp ngành bất động sản niêm yết trên sàn chứng khoán HOSE tại Việt Nam. Tuy nhiên khóa luận này không xét tới tất cả các loại thuế mà chỉ đánh giá duy nhất thuế thu nhập doanh nghiệp.

6.2. Khuyến Nghị Cho Doanh Nghiệp và Cơ Quan Quản Lý

Từ các kết quả nghiên cứu đã đặt ra, bài viết đưa ra một số câu hỏi nhằm tập trung vào việc giải quyết các mục tiêu nghiên cứu. Cụ thể như sau: (1) Có mối quan hệ giữa suy kiệt tài chính và hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp ngành bất động sản hay không? (2) Mức độ tác động của suy kiệt tài chính đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp ngành bất động sản là như thế nào?

6.3. Hạn Chế Nghiên Cứu và Hướng Nghiên Cứu Tương Lai

Đề tài bao gồm những nội dung chính như sau: Chương 1: Tổng quan về ảnh hưởng của suy kiệt tài chính đến hành vi tránh thuế của doanh nghiệp Chương 2: Cở sở dữ liệu và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm Chương 4: Kết luận và đề xuất khuyến nghị

26/04/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA SUY KIỆT TÀI CHÍNH ĐẾN HÀNH VI TRÁNH THUẾ CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về hành vi tránh thuế 1. Khái niệm về thuế Thuế là khoản tiền mà cá nhân và tổ chức bắt buộc phải đóng góp theo nghĩa vụ vào Ngân sách nhà nước theo luật định để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước thích ứng với từng giai đoạn phát triển của đời sống kinh tế xã hội.

Như vậy, thuế trước hết phải là một phần thu nhập. Thu nhập của mỗi một tổ chức, cá nhân sẽ được chia ra làm hai phần, một phần để nộp thuế và phần còn lại để tái sản xuất kinh doanh, tiêu dùng hay tiết kiệm tùy thuộc vào quyết định của tổ chức, cá nhân đó. Thứ hai, thuế là một khoản thu không bồi hoàn, không mang tính hoàn trả trực tiếp. Nộp thuế cho Nhà nước không có nghĩa là cho Nhà nước mượn tiền hay gửi tiền vào Ngân sách nhà nước hoặc là mua một dịch vụ công.

Nộp thuế là một nghĩa vụ cơ bản nhất của công dân. Thứ ba, thuế là một khoản thu mang tính bắt buộc, để đảm bảo tập trung thuế trên phạm vi toàn xã hội. Chính phủ phải sử dụng hệ thống pháp luật để ban hành các sắc thuế, vì vậy thuế thường được quy định dưới dạng văn bản luật hay pháp lệnh. Cho nên, trốn thuế hay gian lận thuế đều bị coi là những hành vi phạm pháp và phải chịu xử phạt về hành chính hoặc hình sự.

Ngoài ra, các pháp nhân và thể nhân chỉ phải nộp cho Nhà nước các khoản thuế đã được pháp luật quy định. Tùy theo cách phân loại mà có các loại thuế khác nhau: Theo tính chất kinh tế: Thuế trực thu: thuế sử dụng đất nông nghiệp, Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế thu nhập cá nhân (TNCN) Thuế gián thu: thuế tiêu thụ đặc biệt, Thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế xuất nhập khẩu Theo thuế suất: thuế tỷ lệ, thuế lũy tiến, thuế lũy thoái Theo đối tượng đánh thuế: thuế đánh vào hàng hóa, tài sản, đánh vào hoạt động sản xuất kinh doanh, thuế đánh vào thu nhập Hiện nay, tại Việt Nam có các sắc thuế sau: thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất - nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, 5 thuế nhà - đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế tài nguyên, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế môn bài. Khái niệm về thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế thu nhập doanh nghiệp xuất hiện rất sớm trong lịch sử phát triển của thuế. Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế thu trên thu nhập của các cơ sở kinh doanh để động viên một phần thu nhập của họ vào ngân sách nhà nước.

Ngoài ra, nhà nước cũng có thể sử dụng loại thuế này để điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua việc động viên công bằng giữa các thành phần kinh tế, khuyến khích ưu đãi đầu tư nhằm thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển. Thuế TNDN là loại thuế trực thu đánh trên phần thu nhập sau khi đã trừ đi các khoản chi phí hợp lý, hợp pháp liên quan đến thu nhập của đối tượng nộp thuế. Thuế TNDN được tính toán dựa trên công thức: Thuế thu nhập doanh nghiệp = Thu nhập tính thuế x Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp Thu nhập tính thuế = Thu nhập chịu thuế - Thu nhập được miễn thuế - Các khoản lỗ được kết chuyển Thu nhập chịu thuế = (Doanh thu - Chi phí được trừ) + Thu nhập chịu thuế khác Đối tượng nộp thuế TNDN là các tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, các nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế khác nhau đồng thời cũng là “người” chịu thuế được quy định tại Điều 2 Thông tư 26/2015/VBHN-BTC có thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật thuế TNDN: - Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam như: Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty hợp danh, Doanh nghiệp tư nhân - Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài (gọi là doanh nghiệp nước ngoài) có cơ sở thường trú tại Việt Nam - Tổ chức được thành lập theo Luật hợp tác xã - Đơn vị sự nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam - Tổ chức khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập Thuế TNDN phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp hoặc các nhà đầu tư. Thuế TNDN được xác định trên cơ sở thu nhập chịu thuế, nên chỉ khi các 6 doanh nghiệp, các nhà đầu tư kinh doanh có lợi nhuận mới phải nộp thuế TNDN, điều này vừa giúp doanh nghiệp có thể được chuyển lỗ sang các năm sau để có cơ hội phục hồi và giảm tình trạng phá sản doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, thuế TNDN là thuế khấu trừ trước thuế thu nhập cá nhân. Thu nhập mà các cá nhân nhận được từ hoạt động đầu tư như: lợi tức cổ phần, lãi tiền gửi ngân hàng, lợi nhuận do góp vốn liên doanh, liên kết. là phần thu nhập được chia sau khi nộp thuế TNDN. Do vậy, thuế TNDN cũng có thể coi là một biện pháp quản lý thu nhập cá nhân.

Thuế thu nhập doanh nghiệp được tính toán dựa trên thu nhập tính thuế và thuế suất theo quy định của Thông tư 78/2014/TT-BTC. Hiện nay, theo Luật Thuế TNDN, thuế suất chung đang là 20%. Tuy nhiên, có một số trường hợp được áp dụng thuế suất ưu đãi nhằm khuyến khích phát triển như: 10% đối với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, 17% đối với các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành kinh tế có lợi ích đặc biệt, 10% đối với các doanh nghiệp hoạt động trong các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu phát triển đô thị mới… Thông tin chi tiết về những doanh nghiệp đặc biệt được hưởng ưu đãi về thuế dựa vào căn cứ theo điều 10, Văn bản hợp nhất số 14/VBHN-VPQH Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp. Hành vi tránh thuế Tránh thuế được biết đến như một chiến lược quản trị doanh nghiệp, sử dụng các phương pháp khai thác các lỗ hổng trong các quy định về thuế để tránh khoản thuế phải nộp một cách hợp pháp (Desai & Dharmapala, 2006; Rego, 2003).

Theo Armstrong, Blouin, Jagolinzer và Larcker (2015), tránh thuế là nỗ lực có chủ ý nhằm giảm thiểu số thuế phải nộp, bằng cách tìm kiếm các lỗ hổng pháp lý để ám chỉ hành động của họ không vi phạm pháp luật và các quy định trong lĩnh vực liên quan. Frank & cộng sự (2009), cũng xác định đây là hành vi “thao túng theo hướng giảm thu nhập chịu thuế thông qua hoạch định thuế và có thể hoặc không thể coi là hành vi trốn thuế”. Desai & Dharmapala (2009), tránh thuế được thực hiện bằng cách tận dụng tối đa các khoản chi phí hợp lý, cấu trúc lại các giao dịch theo hướng giảm nghĩa vụ thuế, có thể là mua trái phiếu địa phương, sử dụng các khoản khấu trừ thuế và tận dụng các ưu đãi thuế. Tránh thuế là một khoản tiết kiệm thuế phát sinh từ các phương pháp giảm thuế và ẩn thuế nói chung, có tính pháp lý đáng ngờ để giảm thiểu nghĩa vụ 7 thuế.

Nói cách khác, phương pháp tránh thuế thì dựa trên khái niệm tập hợp số lượng giao dịch tích lũy để giảm thiểu nghĩa vụ thuế (Desai & Dharmapala, 2006). Tránh thuế là phương thức sử dụng hợp pháp các quy tắc về thuế nhằm đạt lợi ích cho chủ thể, làm giảm số thuế phải nộp trong khuôn khổ pháp luật cho phép (Pasternak & Rico, 2008). Theo lý thuyết đại diện, có những lúc người quản lý không hành động vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cho toàn bộ các cổ đông dẫn đến xung đột về lợi ích giữa nhà quản lý và cổ đông. Tuy nhiên, bởi vì tránh thuế thường bao gồm các hành động che khuất bản chất của giao dịch do các nhà quản lý thực hiện, đồng thời hành vi này cũng cung cấp một lá chắn cho các nhà quản lý tận dụng lợi ích của tránh thuế để tham gia vào nhiều hoạt động đa dạng.

Bên cạnh đó, các nhà quản lý cũng nhận được thù lao từ việc tiết kiệm nguồn nội bộ thông qua việc hoạch định thuế. Có thể thấy rằng hành vi tránh thuế của các nhà quản lý nhằm tối đa hóa giá trị doanh nghiệp bằng việc giảm thiểu mức thuế phải nộp cho Chính phủ, từ đó giảm thiểu vấn đề đại diện giữa các cổ đông và các nhà quản lý của doanh nghiệp (Wang, 2012). Khi đó, lợi ích của người quản lý và cổ đông được điều chỉnh phù hợp, việc quản lý thuế hiệu quả có thể mang lại giá trị cho các cổ đông của công ty và làm giảm các hạn chế tài chính của doanh nghiệp và rủi ro suy kiệt tài chính. Việc lập kế hoạch và thực hiện tránh thuế nhằm giảm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện tại có thể coi là chiến lược xoay vòng khi phải đối mặt với những vấn đề về tài chính.

Hành vi tránh thuế chỉ đơn thuần là hành vi sử dụng các chiến lược để tiết kiệm phần thuế thu nhập doanh nghiệp mà doanh nghiệp phải nộp cho Nhà nước mà không liên quan đến vấn đề đại diện của doanh nghiệp (Desai và Dharmapala, 2009). Trong khi trốn thuế được coi là hành vi phạm pháp, thì tránh thuế thực ra là việc khai thác các lỗ hổng trong hệ thống pháp luật để giảm thuế. Do đó các nhà quản trị thực hiện các hành vi tránh thuế nhằm mục đích giảm thiểu gánh nặng thuế và các nhà đầu tư tin rằng hành vi tránh thuế là hoạt động nâng cao giá trị của doanh nghiệp. Trong thực tế, hành vi tránh thuế được phát hiện trong thuế thu nhập doanh nghiệp thông qua trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng tổn thất các khoản đầu tư tài chính, dự phòng nợ phải thu khó đòi, dự phòng bảo hành sản phẩm, hàng hóa, công trình xây lắp làm tăng chi phí trong kỳ.

Chọn đăng ký 8 phương thức khấu hao (phương thức đường thẳng; theo số dư giảm dần có điều chỉnh; hay theo số lượng, khối lượng sản phẩm) tùy theo dự kiến doanh nghiệp sẽ có lãi hay bị lỗ. Doanh nghiệp đi vay tiền chịu lãi để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh và đưa tiền lãi đó vào chi phí để giảm thu nhập chịu thuế thay vì yêu cầu cổ đông, thành viên góp vốn tự đi vay tiền để góp vốn điều lệ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ