Chương 1: Cơ sở lý luận Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số khái niệm cơ bản đƣợc sử dụng trong luận văn 1. Khái niệm trẻ em sống trong TTBTXH và Làng trẻ mồ côi 1.
Khái niệm trẻ em Theo công ước quốc tế về Quyền trẻ em: Trẻ em được coi là những người dưới 18 tuổi. Tuy nhiên dựa trên những cơ sở khác nhau, căn cứ theo những mục tiêu riêng, trẻ em được quy định trong Luật bảo vệ chăm sóc – giáo dục trẻ em Việt Nam năm 2004 “ là những công dân Việt Nam dưới 16 tuổi“. Độ tuổi thực tế của trẻ em được nuôi dưỡng, giáo dục tại Làng trẻ SOS Hải Phòng và TTBTXH tỉnh Lâm Đồng hầu hết là những trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi trong độ tuổi từ 0 – 18 tuổi do vậy trong nghiên cứu này tôi xác định độ tuổi trẻ em từ 0 – 18 tuổi dựa theo Công ƣớc Quốc Tế về Quyền trẻ em và tập trung nghiên cứu các vấn đề SKTT của nhóm trẻ em từ 6 – 18 tuổi. Trẻ mồ côi, bị bỏ rơi Trẻ mồ côi được định nghĩa là những em trong độ tuổi từ 0 – 18 tuổi có cha hoặc mẹ, hoặc cả cha lẫn mẹ bị tử vong.
Trẻ em bị bỏ rơi là những trẻ em không được cha mẹ thừa nhận, yêu thương, chăm sóc. Cha mẹ bỏ rơi trẻ ở các địa điểm khác nhau như: bệnh viện, nhà chùa, làng trẻ mồ côi, hoặc bất kỳ một địa điểm nào khác. Hầu hết những trẻ em này đều bị bỏ rơi từ khi mới sinh ra và không biết cha mẹ mình là ai, chỉ trừ một số trường hợp cha mẹ đột nhiên bỏ đi biệt tích khi trẻ đang sống cùng cha mẹ hoặc bỏ đi kết hôn với người khác mà không hề quan tâm đến trẻ. Nhìn chung, có thể nói tất cả trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi đều thuộc nhóm trẻ đặc biệt (trẻ có nhu cầu đặc biệt), hoặc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (theo Luật bảo vệ, chăm sóc trẻ em) cần được sự quan tâm, chăm sóc của nhà nước và cộng đồng xã hội.
Trẻ em trong các cơ sở chăm sóc, giáo dục trẻ mồ côi, bị bỏ rơi 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trung tâm bảo trợ xã hội (TTBTXH) và làng trẻ mồ côi hiện đang là hai mô hình chăm sóc, giáo dục trẻ em mồi côi, bị bỏ rơi nói riêng và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nói chung phổ biến nhất ở Việt Nam. Nhìn chung theo quy định của Luật bảo vệ và chăm sóc trẻ em tại Việt Nam, các TTBTXH và Làng trẻ mồ côi có chức năng, nhiệm vụ là chăm sóc, quản lý, giáo dục các nhóm trẻ em dưới đây: (1) Trẻ mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng; (2) Trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại là cha hoặc mẹ mất tích theo quy định tại Điều 78 Bộ luật Dân sự hoặc không đủ năng lực, khả năng nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật; (3) Ngoài ra, trong một số trường hợp trung tâm chăm sóc, giáo dục trẻ có thể xét duyệt và tiếp nhận một số ít trẻ thuộc diện đối tượng: Trẻ em có cha và mẹ, hoặc cha hoặc mẹ đang trong thời gian chấp hành hình phạt tù tại trại giam, không còn người nuôi dưỡng; Trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ gia đình nghèo, thuộc diện đặc biệt khó khăn không tự lo được cuộc sống; Người chưa thành niên từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi nhưng đang đi học văn hóa, học nghề, có hoàn cảnh như trẻ em nêu trên thuộc diện đặc biệt khó khăn không tự lo được cuộc sống; Tuy nhiên, theo quy định riêng về việc tiếp nhận đối tượng chăm sóc và theo đặc điểm thực tế nhóm trẻ em tại Trung tâm bảo trợ xã hội Lâm Đồng và Làng trẻ SOS Hải Phòng tại thời điểm tiến hành nghiên cứu, tất cả trẻ em trong mẫu của chúng tôi là trẻ mồ côi, bị bỏ rơi (Chúng tôi sẽ trình bày cụ thể về mẫu nghiên cứu trong chương 2, chương tổ chức nghiên cứu). Khái niệm vấn đề sức khỏe tâm thần 1. Khái niệm sức khỏe Từ năm 1947 đến nay khái niệm sức khỏe đã được hầu hết các quốc gia, các tổ chức làm việc trong lĩnh vực sức khỏe hiểu một cách thống nhất như sau: "Sức khỏe không chỉ là tình trạng không có bệnh tật mà còn là tình trạng hoàn toàn thoải mái về thể chất, tâm thần, và xã hội".
(Tổ chức Y tế thế giới - WHO) - Hoàn toàn thoải mái về mặt thể chất là một trạng thái khỏe mạnh, không có bệnh tật hay dị tật về mặt thế chất; hoạt động thể lực, hình dáng cũng như các hoạt 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động khác như ăn, ngủ, tình dục, tiêu tiểu bình thường; có đủ năng lượng để thực hiện các hoạt động thường nhật trong cuộc sống… Sức khỏe thể chất còn biểu hiện ở sức lực con người với cơ bắp mạnh mẽ, con người có khả năng mang vác; phản ứng nhanh nhẹn, nhẹ nhàng, sự dẻo dai, thoải mái trong các thao tác lao động và trong cuộc sống hàng ngày. Con người khỏe mạnh có thể làm việc không mệt mỏi khá lâu, khả năng chống đỡ bệnh tật tốt, ít đau ốm và nếu có ốm đau thì mau khỏi; khả năng thích nghi tốt với các thay đổi thường xuyên và đột ngột của môi trường. - Hoàn toàn thoải mái về mặt tâm thần là một trạng thái không chỉ không có rối loạn hay dị tật tâm thần mà còn là một trạng thái tâm thần hoàn toàn thoải mái, bình an, cân bằng về xúc cảm, có khả năng đương đầu với những áp lực, căng thẳng trong cuộc sống; có cảm xúc tình cảm và hành vi ứng xử phù hợp với nhu cầu của xã hội. Sức khỏe tâm thần còn biểu hiện ở chỗ con người cảm thấy hài lòng, thỏa mãn, vui tươi, yêu đời, tự tin, từ đó mà quản lí được hành vi của mình và cư xử đúng mực và tôn trọng mọi người xung quanh trên cơ sở ý thức đầy đủ về giá trị của bản thân…, có ý nghĩa quan trọng vô cùng trong đời sống con người nói riêng và xã hội nói chung.
- Hoàn toàn thoải mái về mặt xã hội là trạng thái thể hiện khả năng hòa nhập của một cá nhân vào môi trường xã hội (gia đình, trường học, cộng đồng.) và khả năng tác động nhằm cải biến môi trường đó. Ba thành phần trên có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau. Cơ thể bị tổn thương, ốm yếu dễ gây tâm trạng bi quan, lo âu, phiền muộn, cáu gắt, uể oải, giảm hứng thú…, tức gây ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần. Ngược lại, khi trạng thái tinh thần không thoải mái, thường xuyên lo âu, sợ hãi, buồn chán… hoăc bị rối loạn tâm thần nặng đều kéo theo các rối loạn hoạt động chức năng cũng như làm giảm khả năng miễn dịch của cơ thể [1, tr 22].
Mặt khác khi sức khỏe thể chất và tâm thần không khỏe mạnh cũng dễ dẫn tới những biểu hiện không khỏe mạnh về mặt xã hội như: giảm nhu cầu, hứng thú giao tiếp; làm hạn chế khả năng hòa nhập, thích ứng với môi trường xã hội; hạn chế khả năng đóng góp cho xã hội. Khái niệm Sức khỏe tâm thần (SKTT) Trước đây sự khỏe mạnh về tâm thần từng được hiểu là không bị chẩn đoán với bất cứ một loại bệnh tâm thần nào như bị tâm thần phân liệt (dân gian vẫn gọi là 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com điên), trầm cảm, động kinh… Song gần đây quan niệm về SKTT đã thay đổi, nhiều người đã nhận ra và đồng ý rằng SKTT không đơn thuần là sự vắng mặt của bệnh tâm thần. Mặc dù vậy, cho đến nay ở Việt Nam vẫn đang tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về SKTT. Theo Từ điển Tâm lý học, sức khỏe tâm thần „„là trạng thái thoải mái, dễ chịu về tinh thần, không có các biểu hiện rối loạn về tâm thần, một trạng thái đảm bảo cho sự điều khiển hành vi, hoạt động phù hợp với môi trường"[1].
Theo Lâm Xuân Điền "Sức khỏe tâm thần là khả năng của bộ máy tâm lý hoạt động một cách hoàn toàn hợp lý, có hiệu quả và đương đầu một cách mềm dẻo trước những tình huống khó khăn mà vẫn có thể tìm lại được sự cân bằng cho mình"[2]. Hoàng Cẩm Tú lại sử dụng định nghĩa “SKTT là một trạng thái không chỉ có rối loạn hay dị tật tâm thần mà còn là một trạng thái tâm thần hoàn toàn thoải mái, cân bằng về cảm xúc, hòa hợp giữa các mối quan hệ gia đình, xã hội, có cảm xúc, hòa hợp giữa các mối quan hệ gia đình, xã hội, có cảm xúc, tình cảm và hành vi ứng xử phù hợp với nhu cầu của xã hội” [5]. Các quan niệm kể trên đều có điểm chung là nhìn nhận SKTT theo nghĩa rộng, coi SKTT không đơn thuần là tình trạng không có dị tật hay bệnh lý về mặt tinh thần. Chúng cũng khá tương đồng với định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO), coi SKTT “là một trạng thái hoàn toàn thoải mái, trong đó con người cảm nhận được năng lực của chính mình, có thể đối mặt với những căng thẳng thường gặp trong cuộc sống, có thể làm việc hiệu quả và có khả năng đóng góp cho cộng đồng” [68].
Như vậy theo các định nghĩa trên SKTT cần được xem xét ở cả 2 góc độ: Sự khỏe mạnh về SKTT và tình trạng có vấn đề về SKTT. Phân biệt tình trạng SKTT tốt và tình trạng có vấn đề SKTT Nếu xem xét trên một phổ liên tục từ bình thường đến bất thường bệnh lý, từ nhẹ đến nặng, có tính chất nhất thời hoặc kéo dài, SKTT bao gồm các trạng thái sau: 1. SKTT tốt Nhiều tác giả đã đề cập đến việc xác định như thế nào là một trạng thái SKTT tốt. Lâm Xuân Điền cho rằng cá nhân có trạng thái SKTT tốt nếu: “Tạo được sự thích nghi với môi trường sống, một sự sảng khoái về tinh thần, một mối quan hệ 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.