phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc dự kiến trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và khuyến nghị 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu 1.1 Nghiên cứu dịch tễ học về sức khỏe tâm thần 1.1 Dịch tễ học về sức khỏe tâm thần trên thế giới Trên thế giới, tỷ lệ các bệnh tâm thần tăng dần từ sau đại chiến thế giới lần thứ 2. Điểm này đƣợc giải thích bởi 2 lý do: (1) Tỷ lệ chết giảm, dân số tăng, tuổi thọ tăng. Ví dụ: Tăng dân số ở độ tuổi nguy cơ đối với bệnh tâm thần phân liệt. (độ tuổi 15-45) nên tỷ lệ bệnh này tăng.
Tăng dân số ở ngƣời cao tuổi nên tỷ lệ các bệnh tâm thần ở ngƣời già tăng. (2) Sự biến động lớn về tâm lý- xã hội. Trong hơn 40 năm qua do vấn đề công nghiệp hoá, đô thị hoá. Ví dụ: Tỷ lệ các rối loạn tâm thần tăng liên quan đến stress, rối loạn hành vi và phạm pháp ở thanh thiếu niên, lạm dụng rƣợu, nghiện ma tuý, trầm cảm, tự sát.
Theo thông cáo báo chí của WHO năm 2001. Trên thế giới cứ 4 ngƣời thì có một ngƣời sẽ mắc chứng rối loạn tâm thần hoặc rối loạn thần kinh vào một thời điểm nào đó trong cuộc đời. Theo đó có 121 triệu ngƣời bị ảnh hƣởng bởi Trầm cảm, 50 triệu ngƣời mắc chứng động kinh, 24 triệu ngƣời mắc chứng tâm thần phân liệt và mỗi năm có 1 triệu ngƣời tự sát, 20 triệu ngƣời có ý định tự sát [57]. WHO nhấn mạnh, để đảm bảo việc chăm sóc sức khoẻ tâm thần ở các tuyến có các thuốc mới và các kỹ thuật mới chƣa đủ mà phải có một sách lƣợc hợp lý dựa vào các số liệu dịch tễ học.
Ở Hoa Kỳ, tỷ lệ mắc trong đời các rối loạn tâm thần là 32,2% dân số [61], ít nhất 15% dân số Hoa kỳ bị rối loạn tâm thần trong 1 năm ( D.Kaplan, tỷ lệ mắc trong đời 1 số bệnh tâm thần nhƣ sau: Bệnh Tâm thần phân liệt 1,5%; Rối loạn trầm cảm 1 cực 6,0%; Rối loạn trầm cảm 2 cực 1,0%; Nghiện rƣợu 13,3%; Nghiện ma tuý 5,9%; Rối loạn tâm căn 3-8%. Một số nghiên cứu dịch tễ học điển hình trên thế giới [61]: Năm 1855, E.Jarvis đã tiến hành một điều tra thu thập thông tin về các điều kiện sinh hoạt của 2471 bệnh nhân tâm thần có 169 bệnh nhân loạn thần và 791 bệnh nhân chậm phát triển tâm thần. Ông kết luận: Các bệnh loạn thần liên quan 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phần nào đến nghèo khó, những ngƣời nhập cƣ dễ bị bệnh hơn những ngƣời dân bản địa. nghiên cứu so sánh thấy ở các vùng đô thị công nghiệp hoá, tỷ lệ các bệnh loạn thần cao hơn ở các vùng nông nghiệp.
điều tra 66 gia đình gồm 1357 ngƣời, thấy tỷ lệ bệnh tâm thần phân liệt rất cao (4%) và tỷ lệ các bệnh tâm thần nói chung là 12 %. Ông cho rằng kết quả đó là do tính đồng huyết tộc. nghiên cứu ở vùng nông thôn Thuringia (Đức) thấy tỷ lệ bệnh tâm thần không cao lắm (13,1/1000 ), nửa số ngƣời bị loạn thần không phải nằm viện. Theo dõi lịch sử gia đình tất cả các bệnh nhân nằm viện trong 2 năm ông thấy tỷ lệ bệnh tâm thần phân liệt là 9,8%o.
Năm 1953 Nghiên cứu của Lin T.Y ở Đài Loan trên toàn thể dân thuộc 5 làng nông thôn, một quần thể nhỏ và một phƣờng thuộc thành phố, với dân số tổng cộng 1931 ngƣời.tất cả các ca bệnh tâm thần đều đƣợc khám xét, chẩn đoán chính xác, kết quả tìm thấy 214 bệnh nhân tâm thần các loại, các bệnh loạn thần chiếm 3,8%. điều tra các rối loạn tâm thần đã đƣợc điều trị tại một quần thể thành thị ở New Haven. Tác giả kết luận ở tầng lớp xã hội càng thấp, tỷ lệ các bệnh tâm căn càng thấp và tỷ lệ các bệnh loạn thần càng cao. Nghiên cứu trên 50 ngƣời da trắng trƣởng thành ở 2 nhóm chẩn đoán là tâm thần phân liệt và tâm căn.
Tác giả khẳng định rằng biến động xã hội rõ ràng có liên quan tới sự xuất hiện các rối loạn tâm thần ở tầng lớp 3 chứ không phải ở tầng lớp có các điều kiện kinh tế không thuận lợi. điều tra dịch tễ học trên 5395 ngƣời trên đảo Iceland 1543/5395 ngƣời đƣợc phân tích bị rối loạn tâm thần, xác xuất toàn bộ các rối loạn tâm thần trƣớc tuổi 61 là 32,47% đối với nam và 34,34% đối với nữ. Đan Mạch trong nhiều năm điều tra tại các cơ sở của bác sỹ đa khoa cũng nhƣ ở các cơ sở chuyên khoa, công bố tỷ lệ mắc bệnh tâm thần hàng năm 254/1000 ở nam và 303/1000 ở nữ. Trong vài thập kỷ cuối thế kỷ XIX khi tâm thần học đã có một vị trí trong y học và đã có bƣớc phát triển quan trọng nhờ sự ra đời hai hệ thống phân loại các rối 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com loạn tâm thần ICD (của WHO) và DSM (của Hiệp hội tâm thần Mỹ); cũng nhƣ nhiều công cụ chẩn đoán bệnh tâm thần nhƣ PSE, DIS, CIDI.
Một số nghiên cứu điển hình từ đó đến nay nhƣ: - Nghiên cứu (1973) của tổ chức WHO, nghiên cứu thí điểm về bệnh tâm thần (IPSS) xuyên văn hoá tại 9 trung tâm ở 9 Quốc gia khác nhau, với dân số 35.000 ngƣời, nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho các nghiên cứu dịch tễ học Quốc tế [61]. - Điều tra quốc gia ở Úc năm 1999, sử dụng Bảng phỏng vấn chẩn đoán quốc tế tổng hợp (Composite International Diagnostic Interview – CIDI). Kết quả nghiên cứu này cho thấy tỉ lệ ngƣời dân mắc các vấn đề SKTT phổ biến là 17,7%. Trong tổng số những ngƣời mắc các vấn đề SKTT, có 4,6% không bao giờ liên lạc với các cơ sở chăm sóc sức khỏe, 29,4% đã có gặp bác sĩ và 7,5% đã có gặp bác sĩ tâm thần trong năm qua [13, tr.
- Năm 1990, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) với bộ câu hỏi CIDI, trên 60.559 ngƣời ở trên 14 quốc gia khác nhau để xác định tỷ lệ bệnh tâm thần trong cộng đồng, thiệt hại do bệnh tâm thần gây ra; và bộ câu hỏi khảo sát việc sử dụng dịch vụ y tế; hoạt động của ngành y tế [13, tr.2 Dịch tễ học các vấn đề sức khỏe tâm thần ở Việt Nam Chính phủ Việt Nam đã có những nỗ lực đáng kể trong lĩnh vực SKTT. Chƣơng trình Mục tiêu Quốc gia về SKTT đƣợc bắt đầu từ năm 1999 (SAVY2). Chƣơng trình mục tiêu quốc gia phòng, chống một số bệnh xã hội giai đoạn 2006- 2010 trong đó có “Dự án bảo vệ sức khỏe tâm thần cộng đồng” đã đƣợc phê duyệt. Năm 2006 Bộ Y tế đã ban hành “Kế hoạch tổng thể quốc gia về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe của vị thành niên và thanh niên Việt Nam, giai đoạn 2006- 2010 và tầm nhìn 2020”.
Trong đó “Sang chấn về tinh thần và các vấn đề khác liên quan đến SKTT” đƣợc coi là một trong các nguy cơ chính đối với sức khỏe của vị thành niên và thanh niên Việt Nam. Đồng thời SKTT đƣợc xếp là một trong 5 vấn đề ƣu tiên cần giải quyết của Kế hoạch trong giai đoan 2006-2010. Tuy nhiên, các can thiệp nâng cao SKTT, đặc biệt cho học sinh nói riêng và thanh thiếu niên nói chung còn rất hạn chế. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ở Việt Nam, từ năm 1964 đến nay đã có một số công trình điều tra cơ bản về bệnh tâm thần và thu đƣợc một số kết quả.
Song do phƣơng pháp, công cụ và đặc biệt là tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh tâm thần ở mỗi thời kỳ có khác nhau nên tỷ lệ một số rối loạn tâm thần có thay đổi. Năm 1981 Trần Văn Cƣờng, Nguyễn Khánh Hợi điều tra tâm thần ở xã Hoà Bình. Nguyễn Thị Mai và cộng sự điều tra về các bệnh tâm thần tại phƣờng Lê Đại Hành, Hà Nội. Nguyễn Văn Siêm và cộng sự điều tra Handicap tâm thần ở 4 xã phƣờng Hà Nội.
Các công trình này cho tỷ lệ mắc bệnh tâm thần dao động 18-20% dân số [61]. Năm 1994 đƣợc sự giúp đỡ của WHO khu vực Tây Thái Bình Dƣơng, ngành tâm thần Việt nam đã tiến hành điều tra tâm thần tại 3 điểm : Xã Tự Nhiên, xã Quất Động thuộc huyện Thƣờng Tín, xã Tiên Kiên, huyện Lâm thao – Phú Thọ và xây dựng mô hình chăm sóc sức khẻo tâm thần dựa vào cộng đông. Cho tỷ lệ một số rối loạn tâm thần nhƣ sau [61]: Bệnh TTPL: 0,3% - 1% dân số. Rối loạn cảm xúc trầm cảm:2,0% - 3,0% dân số.
Rối loạn tâm căn ( lo âu, ám ảnh, suy nhƣợc thần kinh): 4. Nhân cách bệnh: 0,5% - 1,0%. Nghiện ma tuý: 0,15% - 1,5%. Rối loạn hành vi ở thanh thiếu niên (độ tuổi 10 – 17) là0,3% - 3,7%.
Loạn thần do chấn thƣơng sọ não:0,15% - 0,2%. Chậm phát triển tâm thần :0,5% - 1,0%. Năm 1999 Chính phủ đƣa vào Chƣơng trình mục tiêu Quốc gia Dự án Bảo vệ sức khoẻ tâm thần cộng đồng, đặt ra cho ngành tâm thần Việt Nam một thách thức mới, một trách nhiệm hết sức nặng nề [61]. Để có đƣợc số liệu các rối loạn tâm thần trong cả nƣớc và xây dựng kế hoạch Bảo vệ sức khoẻ tâm thần cho nhân dân, ngành tâm thần chọn 10 bệnh tâm thần ƣu tiên để tiến hành điều tra dịch tễ tại các vùng khác nhau.
Trên cơ sở những kết qủa thu đƣợc sẽ giúp cho ngành tâm thần đề ra đƣợc các biện pháp chăm sóc, giúp đỡ, 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com điều trị thích hợp, phòng bệnh cho các bệnh nhân có rối loạn tâm thần nặng tại cộng đồng. Cụ thể nhƣ số liệu dƣới đây: Điều tra dịch tễ học 10 rối loạn tâm thần thường gặp tại cộng đồng từ năm 2000 – 2002 [61]: STT Tên bệnh Tỷ lệ 1 Tâm thần phân liệt. 2,8% 4 Lo âu 2,7% 5 Chậm phát triển trí tuệ 0,63% 6 RLTT chấn thƣơng sọ não 0,51% 7 RL hành vi thanh thiếu niên 0,9% 8 Mất trí tuổi già 0,88% 9 Lạm dụng rƣợu 5,3% 10 Nghiện ma túy 0,3% Tổng 14,82% Kết quả điều tra dịch tễ học này cho thấy, mới chỉ kể đến 10 rối loạn tâm thần thƣờng gặp ở Việt Nam đã chiếm tỷ lệ gần 14,9%, chƣa kể đến các rối loạn khác. Nhƣ vậy, thực sự các vấn đề SKTT ở Việt Nam rất cần đƣợc quan tâm nghiên cứu.