Giới thiệu dự án

Công cuộc hiện đại hóa của Nhật Bản từ nửa cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX là một trong những hiện tượng lịch sử - xã hội độc đáo nhất tại khu vực Đông Á. Sau sự kiện mở cửa cưỡng bức bởi các hiệp ước bất bình đẳng với phương Tây và sự sụp đổ của chính quyền Mạc phủ Edo (Tokugawa) kéo dài hơn 200 năm, Nhật Bản đứng trước nguy cơ trở thành thuộc địa giống như nhiều quốc gia phong kiến phương Đông cùng thời kỳ. Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Triết học với đề tài: "Sự thay đổi của xã hội, kinh tế đến chính trị của Nhật Bản từ sau cải cách Minh Trị đến kết thúc chiến tranh Thế giới thứ hai" (tác giả Lê Thị Thêu, hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Hạnh, Khoa Triết học – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN) đã giải quyết bài toán cốt lõi: Phân tích cơ chế tác động biện chứng giữa các biến chuyển trong cơ sở kinh tế và cấu trúc xã hội đối với sự hình thành, dịch chuyển của kiến trúc thượng tầng chính trị và đường lối ngoại giao Nhật Bản giai đoạn 1868–1945.

Vấn đề cốt lõi (problem statement) của nghiên cứu tập trung vào sự thiếu vắng một hệ thống lý luận biện chứng thống nhất nhằm lý giải: Tại sao cùng xuất phát từ khẩu hiệu "Phú quốc cường binh" (Fukoku Kyohei), Nhật Bản lại trải qua các nấc thang chuyển biến đối ngoại phức tạp: từ bành trướng quân sự ban đầu (chiến tranh Nhật – Thanh 1894–1895, chiến tranh Nga – Nhật 1904–1905), sang đường lối ngoại giao hòa bình, hợp tác kinh tế đa phương (Ngoại giao Shidehara thập niên 1920), và cuối cùng lao vào vòng xoáy của chủ nghĩa quân phiệt phát xít trong Thế chiến thứ hai.

Nghiên cứu xác lập 3 mục tiêu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa và phân tích quá trình chuyển dịch cấu trúc kinh tế - xã hội, văn hóa - tư tưởng của Nhật Bản từ sau cuộc cải cách Minh Trị (1868) đến Hội nghị Washington (1921–1922).
  2. Làm rõ nội dung bản chất, tiền đề kinh tế - xã hội và giới hạn lịch sử của tư tưởng ngoại giao mềm mỏng "hợp tác phát triển kinh tế" dưới sự khởi xướng của Ngoại trưởng Kijūrō Shidehara.
  3. Phân tích quy luật vận động dẫn đến sự trỗi dậy của tư tưởng chủ nghĩa quân phiệt, biến đổi cấu trúc quyền lực nhà nước và sự sụp đổ của đế chế Nhật Bản sau năm 1945.

Phương pháp luận tiếp cận dựa trên hệ thống nguyên lý duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, đặc biệt là mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, kết hợp với các chỉ số thống kê kinh tế - kỹ nghệ lịch sử giai đoạn 1880–1945. Phạm vi nghiên cứu bao quát các cột mốc lịch sử từ sắc lệnh Vương chính phục cổ (Osei fukko) năm 1868 đến văn kiện đầu hàng không điều kiện năm 1945.

Phân tích và thiết kế giải pháp

Phân tích hiện trạng

Nghiên cứu tổng quan lịch sử học thuật cho thấy các công trình trước đây tồn tại nhiều khoảng trống về tính liên kết liên ngành giữa kinh tế học, lịch sử học và triết học chính trị.

Tiêu chí nghiên cứu Công trình của Nguyễn Quốc Hùng (2012) Luận văn của Võ Minh Vũ (2005) Chuyên khảo của Iriye Akira (2013) Đề tài nghiên cứu hiện tại
Phạm vi trọng tâm Toàn cảnh tiến trình lịch sử Nhật Bản từ cổ đại đến hiện đại Cải cách địa tô thời kỳ Minh Trị Lịch sử ngoại giao và triết lý Shidehara Tác động biện chứng giữa Kinh tế - Xã hội và Đường lối Chính trị (1868–1945)
Ưu điểm Liệt kê chi tiết mốc thời gian, tư liệu biên niên sử dồi dào Dữ liệu định lượng chi tiết về phân chia ruộng đất, sắc thuế nông nghiệp Phân tích sâu sắc tư tưởng ngoại giao hòa bình của Kijūrō Shidehara Khung phân tích duy vật biện chứng thống nhất, liên kết hạ tầng - thượng tầng
Hạn chế tồn tại Thiếu liên hệ nhân quả giữa nền tảng xã hội và tư tưởng ngoại giao Chưa làm rõ tác động sâu xa của quan hệ sở hữu đất đai đến kiến trúc chính trị Đứng trên góc nhìn chủ quan bảo vệ quan điểm Nhật Bản, bỏ qua mâu thuẫn giai cấp Đòi hỏi xử lý dung lượng tư liệu đa nguồn và số hóa chỉ số kinh tế lịch sử

Phân tích yêu cầu nghiên cứu theo mô hình MoSCoW:

  • Must have: Làm rõ được quy luật chuyển biến từ kinh tế nông nghiệp (72,6% nông dân thời kỳ sơ kỳ Minh Trị) sang công nghiệp nặng và tác động trực tiếp đến sự phân hóa giai cấp (Hoa tộc, Sĩ tộc, Tốt tộc, Bình dân); cơ sở hình thành của Ngoại giao Shidehara.
  • Should have: Phân tích định lượng sự sụt giảm sản xuất công nghiệp giai đoạn khủng hoảng 1929–1933 (gang giảm 30%, thép giảm 47%) tác động đến sự thắng thế của phe quân phiệt.
  • Could have: So sánh cơ chế can thiệp thị trường của các tập đoàn tài phiệt độc quyền (Zaibatsu) như Mitsui, Mitsubishi với chính sách quân sự hóa.
  • Won't have: Đi sâu vào diễn biến chiến sự vi mô từng trận đánh trong Thế chiến II.

Thiết kế hệ thống

Mô hình phân tích dữ liệu lịch sử và logic triết học được cấu trúc theo hệ thống 3 tầng tương tác nhân quả:

+-------------------------------------------------------------------------+
|                  KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG CHÍNH TRỊ / ĐỐI NGOẠI             |
|   - Minh Trị sơ kỳ: Fukoku Kyohei (Phú quốc cường binh), Osei fukko     |
|   - Thập niên 1920: Ngoại giao hợp tác kinh tế Shidehara (Kenseikai)     |
|   - Thập niên 1930-1945: Chủ nghĩa quân phiệt phát xít (Seiyukai / Quân đội) |
+-------------------------------------------------------------------------+
                  Tác động biện chứng |  | Phản ánh ý thức
+-------------------------------------------------------------------------+
|                    TỒN TẠI XÃ HỘI & VĂN HÓA - TƯ TƯỞNG                  |
|   - Phế bỏ đẳng cấp phong kiến -> Bình đẳng tứ dân (Kazoku, Shizoku,..)  |
|   - Văn minh khai hóa (Bunmei Kaika), Học chế 1872 (Gakusei)            |
|   - Hội trí thức Meirokusha (Fukuzawa Yukichi, Mori Arinori, Nishi Amane)|
|   - Phong trào công nhân, Công đoàn Sodomei, Bạo động lúa gạo 1918      |
+-------------------------------------------------------------------------+
                  Quy định bản chất  |  | Chuyển dịch cấu trúc
+-------------------------------------------------------------------------+
|                       CƠ SỞ HẠ TẦNG KINH TẾ                             |
|   - Cải cách địa tô (Thuế 3% -> 2.5% giá đất), Giải phóng tư liệu SX    |
|   - Công nghiệp hóa: Dệt may, Cơ khí, Hóa chất, Tàu thuyền, Bản vị vàng |
|   - Hệ thống Zaibatsu (Mitsui, Mitsubishi), Khủng hoảng kinh tế 1929    |
+-------------------------------------------------------------------------+

Hệ thống cơ sở dữ liệu định lượng phục vụ nghiên cứu được chuẩn hóa cấu trúc dữ liệu quan hệ (PostgreSQL 15) nhằm liên kết các chỉ số sản xuất với các biến cố chính trị:

-- Schema cấu trúc dữ liệu theo dõi biến thiên Kinh tế - Xã hội - Chính trị
CREATE TABLE economic_indicators (
    record_year INT PRIMARY KEY,
    total_index NUMERIC(6,2) NOT NULL,
    textile_index NUMERIC(6,2),
    machinery_index NUMERIC(6,2),
    chemical_index NUMERIC(6,2),
    gas_electricity_index NUMERIC(6,2),
    metal_index NUMERIC(6,2),
    gold_standard_fixed BOOLEAN DEFAULT FALSE,
    dominant_foreign_policy VARCHAR(100)
);

CREATE TABLE social_demographic_metrics (
    metric_year INT PRIMARY KEY,
    literacy_rate NUMERIC(5,2),
    school_enrollment_rate NUMERIC(5,2),
    peasant_population_ratio NUMERIC(5,2),
    labor_strikes_count INT,
    FOREIGN KEY (metric_year) REFERENCES economic_indicators(record_year)
);

Methodology

Phương pháp luận nghiên cứu vận dụng ma trận phối hợp giữa nguyên lý triết học Mác – Lênin và phân tích dữ liệu lịch sử đối chiếu:

  • Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn: Tiếp cận tư tưởng đối ngoại không tách rời bối cảnh tích lũy tư bản và mâu thuẫn thị trường của các tập đoàn Zaibatsu.
  • Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến: Kết nối trật tự quốc tế từ hệ thống Hiệp ước Washington 1921–1922 (tỷ lệ hải quân Anh – Mỹ – Nhật 5:5:3) với sự điều chỉnh của ngoại giao hòa bình Shidehara.
  • Tiến độ nghiên cứu: Chia làm 4 giai đoạn chuẩn mực từ thu thập văn bản sơ cấp, số hóa dữ liệu thống kê sản xuất công nghiệp M.Yoshino (1880–1925), đến phân tích logic triết học và nghiệm thu.

Implementation và kết quả

Development process

Quá trình triển khai nghiên cứu đã phân tích sâu các thuật toán vận động lịch sử thông qua các giai đoạn cải cách nền tảng:

  1. Giai đoạn Minh Trị Duy Tân (1868–1914): Thiết lập thể chế chính trị mới thông qua Ngũ điều ngự thệ văn (Gokajo no goseimon) ngày 14/3/1868 và bãi bỏ cơ cấu lãnh địa cát cứ bằng chính sách Phế phiên trí huyện (Haihan-chiken) năm 1871 (chuyển đổi từ hàng trăm han thành 1 đạo, 3 phủ, 43 huyện).

Nền kinh tế chuyển đổi từ nông nghiệp lạc hậu sang công nghiệp nhờ giảm thuế nông nghiệp (từ 3% xuống 2,5% giá đất), chuyển giao các xí nghiệp quốc doanh sang các tập đoàn tài phiệt (Zaibatsu) như Mitsui, Mitsubishi, khánh thành đường sắt Tokyo – Yokohama (1872) và áp dụng chế độ Bản vị vàng (tỷ giá cố định 1 USD = 2 Yên).

Về giáo dục và văn hóa, sắc lệnh Học chế 1872 (Gakusei) gồm 213 điều chia toàn quốc thành 8 khu đại học, 256 khu trung học, 53.760 trường tiểu học. Hội trí thức Meirokusha (Minh Lục Xã) với các học giả Fukuzawa Yukichi, Mori Arinori, Nishi Amane đã truyền bá triết học phương Tây (Descartes, John Locke, Hegel, Kant), thúc đẩy tinh thần thực học.

  1. Giai đoạn Hội nghị Washington và Tư tưởng Ngoại giao Shidehara (1921–1931): Sau Thế chiến I, trước sự kiềm tỏa của hệ thống Hiệp ước Washington (Hiệp ước 4 nước, 9 nước và Hiệp ước Hải quân 5 nước với tỷ lệ tải trọng tuần dương hạm 5:5:3), Ngoại trưởng Kijūrō Shidehara đã khởi xướng đường lối đối ngoại "hợp tác phát triển kinh tế". Shidehara chủ trương:
  • Không can thiệp quân sự vào nội bộ Trung Quốc (từ chối can thiệp vũ lực trong sự kiện quân đội Tưởng Giới Thạch tấn công năm 1927).
  • Hợp tác hòa bình với Anh và Hoa Kỳ nhằm bảo vệ an ninh lãnh thổ, tập trung mở rộng thương mại xuất khẩu.
  • Bảo vệ kiên quyết lợi ích thuế quan thương mại của doanh nghiệp Nhật Bản tại Trung Quốc (phản đối Trung Quốc tăng thuế nhập khẩu bông năm 1925).

Đoạn mã Python mô phỏng logic phân tích tương quan giữa sự gia tăng sản lượng công nghiệp nặng và sự chuyển dịch chi phí ngân sách sang vũ trang - ngoại giao:

import numpy as np
import pandas as pd

# Dữ liệu chỉ số sản xuất công nghiệp Nhật Bản (Nguồn: M.Yoshino 1986 trích từ luận văn)
historical_data = {
    'Year': [1880, 1885, 1890, 1900, 1905, 1910, 1915, 1920, 1925],
    'General_Index': [1.51, 1.51, 3.74, 11.30, 21.79, 31.88, 48.64, 80.52, 115.77],
    'Textile': [1.10, 1.60, 5.85, 20.40, 27.75, 36.95, 57.90, 77.58, 111.70],
    'Machinery': [2.38, 2.36, 4.67, 12.53, 27.78, 32.46, 39.93, 91.33, 99.21],
    'Chemicals': [0.00, 0.00, 1.24, 7.72, 17.03, 26.81, 18.34, 76.87, 10.72],
    'Metals': [1.30, 0.79, 1.29, 1.34, 15.22, 31.48, 59.55, 80.55, 124.38]
}

df = pd.DataFrame(historical_data)

def evaluate_dialectic_shift(dataframe: pd.DataFrame) -> pd.DataFrame:
    """Tính toán tốc độ tăng trưởng lũy kế của ngành cơ khí - kim loại 
    đối trọng với công nghiệp dệt nhằm giải thích cơ sở hạ tầng cho chính sách quân sự hóa."""
    dataframe['Heavy_Industry_Index'] = (dataframe['Machinery'] + dataframe['Metals']) / 2
    dataframe['Structural_Ratio'] = dataframe['Heavy_Industry_Index'] / dataframe['Textile']
    dataframe['Militarization_Pressure'] = np.where(
        dataframe['Structural_Ratio'] > 0.9, 'Cao (Ưu thế phe Quân phiệt)', 'Trung bình (Cân bằng Shidehara)'
    )
    return dataframe

analyzed_df = evaluate_dialectic_shift(df)

Testing và validation

Nghiên cứu đã kiểm định chéo các nguồn dữ liệu thông qua hệ thống định lượng xác thực:

  • Phổ cập giáo dục: Tỷ lệ trẻ em đến trường tăng trưởng ngoạn mục từ 28% (1873) lên 50% (1882), đạt 67% (1895) và chạm mốc 98% (1904), khẳng định tính chính xác của nhận định từ Edwin O. Reischauer về nguồn nhân lực biết chữ tạo bệ phóng cho công nghiệp hóa.
  • Sản lượng xuất khẩu: Nhật Bản trở thành quốc gia xuất khẩu tơ sống lớn nhất thế giới giai đoạn 1899–1903 đạt 15 triệu pound/năm (tương đương 6.806 tấn).
  • Chỉ số công nghiệp hóa: Chỉ số công nghiệp tổng thể tăng vọt từ 1,51 (1880) lên 115,77 (1925), trong đó ngành kim loại tăng từ 1,30 lên 124,38.
  • Tác động khủng hoảng 1929–1933: Sản lượng ngành gang sụt giảm 30%, ngành thép giảm 47% năm 1931, kết hợp với nạn mất mùa nghiêm trọng tại Tohoku và Hokkaido đã đẩy mâu thuẫn xã hội lên đỉnh điểm, tạo điều kiện cho phe quân phiệt phát động Chính biến Mãn Châu (9/1931).
BẢNG CHỈ SỐ TĂNG TRƯỞNG SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP NHẬT BẢN (1880 - 1925)
Nguồn: M.Yoshino (1986), Viện Kinh tế Thế giới

        1880        1900        1910        1920        1925 (Năm)

Kết quả đạt được

  1. Chứng minh tính quy luật của sự chuyển biến hình thái kinh tế: Hạ tầng sản xuất phát triển mạnh mẽ tạo ra sự tích tụ tư bản cao độ của các tập đoàn Zaibatsu, dẫn đến nhu cầu sống còn về thị trường nguyên liệu và tiêu thụ tại Mãn Châu - Trung Quốc.
  2. Lý giải thành công sự sụp đổ của Ngoại giao Shidehara: Đường lối ngoại giao kinh tế ôn hòa thất bại không phải do sự thiếu sót của cá nhân Kijūrō Shidehara, mà do mâu thuẫn nội tại giữa sự bế tắc của thị trường tiêu thụ tư bản trong khủng hoảng kinh tế 1929–1933 và sự kìm kẹp từ Đạo luật Di dân bài Nhật của Mỹ (1924) cùng hàng rào thuế quan quốc tế.

Đổi mới và đóng góp

  • Tiếp cận liên ngành Triết học – Kinh tế – Ngoại giao: Không dừng lại ở việc mô tả biên niên sử sự kiện, nghiên cứu đã sử dụng quy luật biện chứng duy vật lịch sử để phân tích động lực sâu xa của các quyết sách chính trị đối ngoại.
  • Đánh giá khách quan về Triết lý Shidehara: Khắc phục góc nhìn định kiến của phe quân sự thời bấy giờ (cho rằng Shidehara "nhu nhược, luồn cúi phương Tây"), đề tài chứng minh đây là một chiến lược thực dụng, khai thác sự bảo hộ an ninh của các cường quốc để tối đa hóa tích lũy kinh tế cho quốc gia.
  • Mô hình hóa tác động của văn hóa khai hóa: Đánh giá đúng vai trò then chốt của giới trí thức cấp tiến (Hội Meirokusha) trong việc cải tạo hệ tư tưởng xã hội, chuyển từ tư duy Nho học hàn lâm sang thực học duy lý.

Ứng dụng thực tế và triển khai

  • Giá trị học thuật: Cung cấp khung tài liệu tham khảo chất lượng cao cho các học phần Triết học Mác – Lênin, Lịch sử Tư tưởng Triết học Phương Đông, Lịch sử Quan hệ Quốc tế và Châu Á học tại các cơ sở đào tạo đại học.
  • Bài học kinh nghiệm cho chính sách quốc gia: Rút ra bài học lịch sử về mối quan hệ giữa độc lập tự chủ kinh tế và đường lối ngoại giao linh hoạt; tầm quan trọng của việc đầu tư cho giáo dục thực nghiệm (Học chế) và bài học cảnh giác trước chủ nghĩa dân tộc cực đoan, quân phiệt hóa.
  • Khả năng nhân rộng nghiên cứu: Khung phân tích có thể mở rộng để nghiên cứu giai đoạn phát triển thần kỳ của kinh tế Nhật Bản hậu chiến (1945–1990) dưới bản Hiến pháp hòa bình mới (Điều 9) – sự kế thừa tinh thần hòa bình của chính Kijūrō Shidehara khi ông giữ chức Thủ tướng năm 1945–1946.

Hạn chế và hướng phát triển

  • Hạn chế về nguồn tư liệu sơ cấp: Đề tài chủ yếu khai thác các nguồn tài liệu đã được dịch thuật và công bố bằng tiếng Việt và tiếng Anh; chưa tiếp cận trực tiếp toàn văn các văn bản lưu trữ ngoại giao gốc bằng tiếng Nhật cổ thời kỳ Meiji - Taisho.
  • Hướng phát triển tương lai: Số hóa và ứng dụng mô hình học máy (Natural Language Processing) để phân tích diễn ngôn tư tưởng của các chính khách trên các tạp chí học thuật thời kỳ Meirokusha và các nghị trường Quốc hội Nhật Bản giai đoạn 1920–1945.

Đối tượng hưởng lợi

  • Sinh viên và Học viên Cao học: Nắm vững phương pháp luận vận dụng triết học Mác – Lênin vào giải quyết một vấn đề lịch sử - xã hội cụ thể, có nguồn số liệu định lượng chuẩn xác để trích dẫn.
  • Giảng viên và Nhà nghiên cứu: Sở hữu tài liệu phân tích hệ thống về sự tương tác giữa chính trị, kinh tế và triết lý ngoại giao Nhật Bản cận - hiện đại.
  • Chuyên viên Hoạch định Chính sách & Đối ngoại: Tham khảo kinh nghiệm lịch sử về quản trị khủng hoảng kinh tế, điều hòa mâu thuẫn quốc tế và xây dựng chiến lược ngoại giao hòa bình, đa phương hóa.

Câu hỏi thường gặp

  1. Yêu cầu kỹ thuật và phương pháp luận cốt lõi để triển khai đề tài này là gì? Cần nắm vững phép biện chứng duy vật (nguyên lý mối liên hệ phổ biến, cặp phạm trù cơ sở hạ tầng - kiến trúc thượng tầng), kết hợp kỹ năng xử lý thống kê định lượng dữ liệu kinh tế - lịch sử và kỹ năng phân tích tài liệu thứ cấp chuẩn xác.

  2. Giới hạn lớn nhất của đường lối Ngoại giao Shidehara trong thực tế lịch sử là gì? Đường lối của Shidehara phụ thuộc hoàn toàn vào sự ổn định của hệ thống hiệp ước quốc tế phương Tây (Washington - Versailles). Khi cuộc Đại khủng hoảng 1929 bùng nổ, các nước áp đặt hàng rào bảo hộ mậu dịch, ngoại giao hòa bình mất đi chỗ dựa kinh tế và bị phe quân phiệt xóa bỏ.

  3. Làm thế nào để tích hợp dữ liệu thống kê kinh tế vào một công trình nghiên cứu triết học? Số liệu kinh tế (chỉ số sản xuất, thuế đất, cán cân xuất nhập khẩu) đóng vai trò là bằng chứng thực chứng phản ánh trạng thái của "tồn tại xã hội" và "cơ sở hạ tầng", từ đó giải thích sự biến đổi của "ý thức xã hội" và "thượng tầng kiến trúc chính trị".

  4. Nghiên cứu này có ý nghĩa gì đối với việc lý giải vị thế kinh tế của Nhật Bản hiện đại? Nghiên cứu làm rõ nền tảng thể chế, giáo dục phổ cập (Học chế 1872) và năng lực hấp thu khoa học công nghệ phương Tây đã được định hình từ thời Minh Trị, tạo nên nội lực bền vững giúp Nhật Bản phục hồi thần kỳ sau năm 1945.

  5. Tại sao cải cách địa tô lại được coi là gốc rễ của biến đổi xã hội thời kỳ Minh Trị? Cải cách địa tô chuyển nghĩa vụ nộp thuế từ người canh tác thuê sang người sở hữu đất thực tế bằng tiền mặt (3% giá đất cố định), giải phóng lực lượng lao động nông thôn dịch chuyển lên thành thị làm công nhân công nghiệp, tạo tiền đề cho phân tầng xã hội mới.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Thêu đã giải quyết xuất sắc các nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, làm sáng tỏ tiến trình biến đổi biện chứng giữa kinh tế, xã hội và chính trị Nhật Bản từ sau cải cách Minh Trị năm 1868 đến khi kết thúc Thế chiến thứ hai năm 1945. Bằng việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa phương pháp luận triết học duy vật lịch sử và các bằng chứng định lượng kinh tế, công trình không chỉ tái hiện một giai đoạn lịch sử đầy biến động mà còn đóng góp một góc nhìn học thuật sâu sắc về quy luật vận động của quyền lực nhà nước dưới tác động của các mâu thuẫn giai cấp và lợi ích kinh tế quốc tế. Đây là công trình nghiên cứu có giá trị lý luận và thực tiễn cao, đóng góp thiết thực cho kho tàng nghiên cứu triết học xã hội và lịch sử quan hệ quốc tế.