Tổng quan nghiên cứu

Khu di tích Cổ Loa có quy mô diện tích gần 46 ha và bề dày lịch sử khảo cổ học từ 2.000 đến 4.000 năm, là một trong 9 di tích quốc gia đặc biệt tiêu biểu của Thủ đô Hà Nội. Trong tổng số hơn 5.175 di tích lịch sử trên địa bàn thành phố, Cổ Loa đại diện cho mô hình cấu trúc thành lũy quân sự cổ đại độc đáo với 3 vòng thành đất khép kín. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa mạnh mẽ cùng sự gia tăng dân số với 18.910 nhân khẩu sinh sống trực tiếp trong khu vực di tích đã tạo ra sức ép to lớn lên công tác bảo tồn cảnh quan và kiến trúc gốc.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là sự mâu thuẫn giữa mô hình quản trị di sản mang tính mệnh lệnh hành chính từ trên xuống và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng bản địa. Mục tiêu cụ thể của công trình nhằm đánh giá toàn diện thực trạng tham gia của người dân trong việc bảo vệ, khai thác giá trị di tích, đồng thời phân tích mối quan hệ tương tác giữa chính quyền, cơ quan chuyên môn và cộng đồng cư dân. Phạm vi nghiên cứu tập trung tại địa bàn xã Cổ Loa thuộc huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2015.

Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ thực tiễn giúp cân bằng giữa bảo tồn di sản và an sinh xã hội. Luận văn chỉ rõ việc thiếu vắng sự tham gia của 100% đại diện thôn xóm trong các quyết định quy hoạch đã trực tiếp dẫn đến hiện tượng xâm lấn hơn 98.000 m2 đất mặt thành. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo giá trị cho việc chuyển đổi mô hình quản lý đơn ngành sang phương thức đồng quản lý di sản bền vững tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết tiếp cận có sự tham gia của cộng đồng với trọng tâm là mô hình 8 nấc thang tham gia của Sherry R. Arnstein (1969). Mô hình này chia mức độ can dự của người dân thành 3 nhóm cấp độ: không tham gia (vận động, trị liệu), tham gia hình thức (cung cấp thông tin, tham vấn, xoa dịu) và trao quyền thực chất (hợp tác, ủy quyền, quyền kiểm soát). Bên cạnh đó, nghiên cứu kết hợp khung phân tích 4 giai đoạn tham gia của Cohen và Uphoff (1977), bao gồm: ra quyết định, thực hiện, thụ hưởng lợi ích và kiểm tra đánh giá.

Các khái niệm chính được định nghĩa nhất quán trong công trình gồm: di sản văn hóa vật thể theo Luật Di sản văn hóa sửa đổi năm 2009; quản lý văn hóa dựa vào cộng đồng; phân loại cộng đồng địa lý (cư dân sinh sống tại 15 thôn thuộc xã Cổ Loa) và cộng đồng chức năng (các hội đoàn thể như Hội Người cao tuổi, Hội Phụ nữ, ban khánh tiết dòng họ).

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng phương pháp điền dã dân tộc học truyền thống kết hợp nhân học hiện đại. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 65 đối tượng được khảo sát chuyên sâu, trong đó có 45 người dân bản địa đại diện cho các cụm dân cư vùng lõi di tích (xóm Chùa, xóm Chợ, Mạch Tràng, Thượng - Cưu - Bãi) và 20 cán bộ quản lý thuộc Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội, Ban Quản lý Khu di tích Cổ Loa và chính quyền xã Cổ Loa. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp kỹ thuật quả bóng tuyết (snowball sampling) được áp dụng nhằm tiếp cận các nhóm đối tượng nắm giữ tri thức dân gian và người trực tiếp chịu ảnh hưởng bởi quy hoạch.

Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp được triển khai trên hệ thống văn bản pháp quy như Sắc lệnh số 65 năm 1945, Quyết định số 173/2002/QĐ-UB về phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2000, và Quyết định số 1419/QĐ-TTg năm 2012. Lý do lựa chọn kết hợp phỏng vấn sâu và quan sát tham dự là nhằm khai thác góc nhìn của người trong cuộc, bảo đảm tính chân thực của dữ liệu định tính và phản ánh đúng tiếng nói của cộng đồng trong giai đoạn điền dã từ năm 2014 đến cuối năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, hệ thống di tích Cổ Loa đang chịu áp lực xâm hại nghiêm trọng từ đời sống dân sinh. Toàn bộ 3 vòng thành nguyên gốc có chiều dài 15.820 m nay chỉ còn lại khoảng 11.000 m (suy giảm gần 30% tổng chiều dài). Thống kê đo đạc thực tế ghi nhận diện tích đất ở của người dân lấn chiếm trên mặt thành rất lớn: hơn 7.000 m2 tại Thành Nội, khoảng 42.000 m2 tại Thành Trung và gần 49.000 m2 tại Thành Ngoại.

Thứ hai, mức độ tham gia của cộng đồng Cổ Loa mới chỉ dừng ở mức độ thấp, tương ứng với nấc thang số 3 và số 4 (cung cấp thông tin một chiều và tham vấn hình thức). Khoảng 85% các quyết định liên quan đến quy hoạch bảo tồn, phân định vành đai bảo vệ đều do các cơ quan nhà nước ban hành mà không có sự bàn thảo trước với người dân.

Thứ ba, cơ cấu kinh tế địa phương đạt tổng thu nhập 523,94 tỷ đồng vào năm 2014 với mức thu nhập bình quân 28,9 triệu đồng/người/năm, nhưng nguồn thu từ dịch vụ du lịch văn hóa chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ. Người dân địa phương gần như đứng ngoài chuỗi giá trị du lịch, chỉ khai thác được các dịch vụ phụ trợ quy mô nhỏ như trông giữ xe hoặc buôn bán nhỏ lẻ tại khu vực chợ Sa Cổ Loa rộng 4.212 m2 trong các dịp lễ hội đầu xuân.

+-------------------------------------------------------------------------+
|                HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ KHU DI TÍCH CỔ LOA                    |
+------------------------------------+------------------------------------+
| CHỈ SỐ BẢO TỒN VẬT THỂ             | MỨC ĐỘ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG      |
+------------------------------------+------------------------------------+
| • Chiều dài thành: Còn 11.000 m    | • Quyết định quy hoạch: 85% từ     |
|   (giảm ~30% so với 15.820 m gốc)  |   cơ quan cấp trên áp đặt xuống    |
| • Đất ở lấn chiếm mặt thành:       | • Nấc thang tham gia: Dừng ở mức   |
|   - Thành Nội: ~7.000 m2           |   thông báo, tham vấn hình thức    |
|   - Thành Trung: ~42.000 m2        | • Sinh kế du lịch: Tự phát nhỏ lẻ, |
|   - Thành Ngoại: ~49.000 m2        |   chưa liên kết chuỗi giá trị      |
+------------------------------------+------------------------------------+

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên bắt nguồn từ cơ chế quản lý chồng chéo giữa Ban Quản lý di tích (thuộc ngành dọc văn hóa thành phố) và UBND xã Cổ Loa (chính quyền quản lý địa bàn và trật tự xây dựng). Quy định về vành đai bảo tồn rộng 55 m đối với thân hào và vành đai bảo vệ mở rộng thêm 10 m đã vô hình trung "đóng băng" quyền lợi xây dựng, tách thửa, cải tạo nhà ở của hơn 4.800 hộ gia đình.

Dữ liệu khảo sát khi đối chiếu với các nghiên cứu tương tự cho thấy sự tương đồng rõ nét với bài học tại Làng cổ Đường Lâm (người dân từng làm đơn xin trả lại danh hiệu di sản do bị hạn chế quyền sinh hoạt) và trường hợp tu bổ sai lệch tại Chùa Trăm Gian (do người dân tự ý sửa chữa khi thiếu hướng dẫn kỹ thuật). Mô hình ma trận phân quyền cho thấy khi cộng đồng bị tách rời khỏi quyền lợi kinh tế, họ sẽ có xu hướng phản kháng thầm lặng hoặc xâm phạm di tích để phục vụ nhu cầu sinh tồn. Việc quản trị di tích chỉ thực sự hiệu quả khi xây dựng được cơ chế phân chia lợi ích công bằng giữa Nhà nước và người dân sở tại.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, thiết lập cơ chế đồng quản lý (Co-management) di sản giữa Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội, UBND xã Cổ Loa và đại diện 15 thôn bản. Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội cần chủ trì xây dựng quy chế phối hợp trong giai đoạn 2026 - 2027, đặt mục tiêu 100% các đồ án quy hoạch chi tiết và dự án tu bổ phải tổ chức lấy ý kiến cộng đồng trực tiếp tại nhà văn hóa thôn trước khi trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Thứ hai, rà soát và điều chỉnh ranh giới khoanh vùng bảo vệ di tích theo hướng linh hoạt và khả thi. UBND huyện Đông Anh phối hợp với Sở Quy hoạch - Kiến trúc Hà Nội tiến hành cắm mốc giới cụ thể ngoài thực địa, hoàn thành việc cấp phép xây dựng có kiểm soát kiến trúc truyền thống cho hơn 4.000 hộ dân nằm trong ranh giới bảo vệ cấp II trong giai đoạn 2026 - 2028, hướng tới mục tiêu giảm 50% số vụ vi phạm trật tự xây dựng di tích.

Thứ ba, phát triển mô hình kinh tế du lịch di sản dựa vào cộng đồng (CBT). UBND huyện Đông Anh và Sở Du lịch Hà Nội cần triển khai đề án phát triển sinh kế giai đoạn 2026 - 2030, trích tối thiểu từ 20% đến 30% nguồn thu từ vé tham quan để tái đầu tư nâng cấp hạ tầng dân sinh, đồng thời tổ chức các lớp đào tạo kỹ năng hướng dẫn viên và dịch vụ lưu trú homestay cho khoảng 500 lao động địa phương.

Thứ tư, nâng cao năng lực giám sát độc lập của các đoàn thể quần chúng. Giao quyền kiểm tra, bảo vệ thường xuyên các điểm di tích như đền Thượng (19.138,6 m2), đình Ngự Triều Di Quy (4.635,2 m2) và am Mỵ Châu (925,4 m2) cho Hội Người cao tuổi và Ban khánh tiết các thôn. Hằng năm, tổ chức 12 đợt tập huấn chuyên môn về Luật Di sản văn hóa cho đội ngũ cán bộ cơ sở và đại diện các dòng họ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Các cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa và di sản (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Di sản Văn hóa, Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội). Luận văn cung cấp khung phân tích thực chứng để xây dựng các văn bản dưới luật về cơ chế đồng quản lý và xã hội hóa bảo tồn di tích.

Nhóm 2: Chính quyền địa phương cấp huyện và xã (UBND huyện Đông Anh, UBND xã Cổ Loa và các địa phương có di tích quốc gia đặc biệt). Nghiên cứu giúp tháo gỡ các điểm nghẽn trong quản lý trật tự xây dựng, quy hoạch sử dụng đất và giải quyết khiếu nại liên quan đến quyền lợi cư dân trong vùng lõi di tích.

Nhóm 3: Giảng viên, học viên cao học và sinh viên các ngành Dân tộc học, Nhân học, Văn hóa học, Quản lý Văn hóa và Du lịch. Tài liệu mang lại nguồn tư liệu điền dã phong phú, phương pháp tiếp cận nhân học hành động và ứng dụng thực tiễn của thang bậc tham gia Arnstein trong bối cảnh Việt Nam.

Nhóm 4: Các tổ chức phát triển, chuyên gia quy hoạch đô thị và doanh nghiệp lữ hành. Nghiên cứu cung cấp góc nhìn đa chiều để thiết kế các dự án bảo tồn tích hợp phát triển sinh kế bền vững, bảo đảm tôn trọng tri thức bản địa và văn hóa cư dân sở tại.

Câu hỏi thường gặp

  1. Vì sao sự tham gia của cộng đồng lại đóng vai trò quyết định đối với sự sống còn của di tích Cổ Loa? Bởi vì Cổ Loa là một di tích "sống" với hơn 18.900 cư dân cư trú đan xen cùng hệ thống thành hào và các công trình đền, đình, chùa. Cơ quan quản lý nhà nước không thể túc trực bảo vệ từng mét thành đất nếu người dân không coi di sản là tài sản chung của chính họ.

  2. Hiện tượng "đóng băng" đời sống của người dân Cổ Loa bắt nguồn từ nguyên nhân nào? Hiện tượng này xuất phát từ các quy định nghiêm ngặt của Luật Di sản văn hóa và Quyết định 173/2002/QĐ-UB. Các hộ dân trong vành đai bảo tồn 55 m không được phép tách thửa, xây mới hay cơi nới nhà cửa, dẫn đến tình trạng nhiều thế hệ phải chen chúc trong những ngôi nhà xuống cấp nghiêm trọng.

  3. Luận văn đánh giá mức độ tham gia của người dân Cổ Loa đạt bậc nào trên thang đo Arnstein? Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng người dân Cổ Loa chủ yếu ở bậc 3 (Cung cấp thông tin) và bậc 4 (Tham vấn). Người dân chỉ được nghe thông báo về các dự án hoặc đóng góp ý kiến mang tính hình thức, chưa đạt đến các bậc cao như Hợp tác hay Trao quyền kiểm soát.

  4. Mối quan hệ giữa bảo tồn di tích Cổ Loa và phát triển kinh tế địa phương có điểm gì bất cập? Doanh thu kinh tế toàn xã Cổ Loa năm 2014 đạt hơn 523 tỷ đồng nhưng nguồn thu từ du lịch di sản chiếm tỷ lệ rất thấp. Lợi ích từ bán vé tham quan và dịch vụ lễ hội chưa được điều tiết trực tiếp để tái đầu tư vào phúc lợi công cộng và cải thiện thu nhập cho cư dân địa phương.

  5. Giải pháp then chốt nào giúp dung hòa mâu thuẫn giữa cơ quan quản lý và người dân bản địa? Giải pháp cốt lõi là chuyển từ mô hình quản lý đơn ngành áp đặt sang mô hình đồng quản lý. Chính quyền cần phân định rõ ranh giới khoanh vùng bảo vệ, cấp phép xây dựng có quy chuẩn kiến trúc và trích lại 20 - 30% nguồn thu du lịch để tạo sinh kế bền vững cho người dân.

Kết luận

  • Luận văn khẳng định Khu di tích Cổ Loa là một quần thể di sản sống gắn bó hữu cơ với không gian sinh tồn của 18.910 cư dân địa phương qua nhiều thế hệ.
  • Công trình chỉ rõ phương thức quản lý hành chính đơn thuần từ trên xuống đã bộc lộ nhiều bất cập, khiến hơn 98.000 m2 đất mặt thành bị lấn chiếm và làm suy giảm 30% chiều dài thành cổ.
  • Nghiên cứu đặt nền tảng học thuật vững chắc cho việc ứng dụng lý thuyết tiếp cận có sự tham gia và thang bậc Arnstein vào quản trị di sản văn hóa vật thể tại Việt Nam.
  • Luận văn xác lập lộ trình đồng quản lý giai đoạn 2026 - 2030, kết hợp hài hòa giữa bảo tồn yếu tố gốc và giải quyết bài toán an sinh xã hội cho hơn 4.800 hộ dân.
  • Các cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương cần khẩn trương thể chế hóa cơ chế tham vấn cộng đồng thực chất nhằm bảo tồn bền vững di tích quốc gia đặc biệt Cổ Loa.