phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung đề tài đƣợc chia thành ba chƣơng nhƣ sau: - Chƣơng I: Quyền dân sự, chính trị trong Hiến pháp - Chƣơng II: Quyền dân sự, chính trị trong các bản Hiến pháp của Việt Nam - Chƣơng III: Một số kiến đối với các quy định về quyền dân sự, chính trị trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. CHƢƠNG 1: QUYỀN DÂN SỰ, CHÍNH TRỊ TRONG HIẾN PHÁP 1.1 Khái niệm về quyền dân sự, chính trị 1.1 Khái niệm về quyền con người Từ thời cổ đại, các nhà tƣ tƣởng, các nhà chính trị đã đề cập rất nhiều đến việc bảo vệ các giá trị, nhân phẩm của con ngƣời. Chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy tƣ tƣởng này trong các văn bản pháp luật thời cổ đại thông qua các quy định nhằm bảo vệ các quyền của thần dân, chống lại và trừng phạt những hành vi xâm phạm đến quyền sống, quyền tự do thân thể, quyền sở hữu của con ngƣời. Ví dụ, trong Bộ luật Hammurabi (khoảng năm 1780 TCN), một trong những bộ luật cổ nhất và tiêu biểu nhất thời kỳ cổ đại quy định những hình phạt vô cùng nghiêm khắc đối với tội vu khống ngƣời khác và các tội xâm phạm quyền sở hữu.
Bộ luật cũng thể hiện tƣ tƣởng mọi ngƣời đều bình đẳng trƣớc pháp luật theo đó “sức mạnh của hình phạt, khi đƣợc thực thi một cách công bằng tƣơng ứng với mức độ phạm tội và bất chấp kẻ bị trừng phạt là con vua hoặc kẻ thù, là để bảo vệ xã hội này và xã hội sau”[17]. Tƣơng tự, trong các tác phẩm của các tôn giáo lớn trên thế giới nhƣ: Luận ngữ (đạo Nho), Kinh vệ đà của đạo Hin – đu, Kinh phật, Kinh thánh, Kinh Ko – ran. đều thể hiện tấm lòng từ bi, yêu thƣơng con ngƣời, hƣớng con ngƣời tới lẽ phải, lòng vị tha, yêu thƣơng đồng loại. Ví dụ, kinh thánh Tân ƣớc khuyên răn con ngƣời không làm việc xấu nhƣ giết ngƣời, ngoại tình, trộm cắp, làm chứng gian, làm hại ngƣời khác.
Khuyên con ngƣời bác ái với mọi ngƣời, kể cả với kẻ thù của mình. Kinh phật coi tất cả mọi ngƣời đều bình đẳng nhƣ nhau, khuyên con ngƣời sống hòa thuận, tu nhân, tích đức. Nhƣ vậy, tƣ tƣởng về quyền con ngƣời đã đƣợc hình thành từ rất sớm trong lịch sử nhân loại. Tuy nhiên, quyền con ngƣời là quyền bẩm sinh, ra đời, tồn tại cùng với sự ra đời của con ngƣời hay là quyền do Nhà nƣớc ban phát cho? Vấn đề này đã gây tranh cãi giữa hai luồng quan điểm khác nhau đó là quan điểm về “quyền tự nhiên” và quan điểm về “quyền pháp lý”.
Những ngƣời theo học thuyết về quyền tự nhiên cho rằng con ngƣời là một thực thể tự nhiên, là một loài động vật. Vì vậy, theo lẽ tự nhiên, con ngƣời có quyền bảo vệ bản thân và tài sản của mình. Các quyền này là những gì bẩm sinh, vốn có mà mọi cá nhân sinh ra đều đƣợc hƣởng. Do vậy, các quyền này tồn tại không phụ thuộc vào phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa hay ý chí của bất cứ cá nhân, giai cấp, tầng lớp hay nhà nƣớc nào.
Không một chủ thể nào, kể cả nhà nƣớc có thể ban phát hay tƣớc bỏ các quyền tự nhiên này. Tiêu biểu cho trƣờng phái quan điểm này là các nhà triết học Thomas Hobbes (1588 – 1679), John Locke (1632 – 1704), Thomas Paine (1731 – 1809)… Trong tác phẩm Thủy quái (Liviathan), Thomas Hobbes định nghĩa quyền tự nhiên là “sự tự do để mỗi con người dùng sức mạnh của bản thân, một cách tự nhiên, để bảo vệ bản chất tự nhiên của anh ta – nghĩa là của cuộc sống của anh ta – và do đó sẽ làm bất cứ việc gì mà lý trí và sự suy xét của bản thân anh ta cho là phương tiện hợp lý nhất để thực hiện điều đó”. [18] John Locke cho rằng con ngƣời tồn tại trong trạng thái tự do một cách tự nhiên mà ở đó họ tự sắp xếp hành động, tài sản và cá nhân họ theo nhứng gì mà họ cho là thích hợp, trong khuôn khổ của luật tự nhiên, mà không phải hỏi xin phép và không phụ thuộc vào ý chí của bất kỳ ai khác. Trong trạng thái này, tất cả mọi ngƣời bình đẳng về quyền lực và quyền thực thi công lý.
Tuy nhiên, để duy trì, bảo vệ quyền tự nhiên này thì mỗi ngƣời đều có thể bị ngăn chặn để không đi xâm hại các quyền tự nhiên của ngƣời khác, không gây phƣơng hại cho ngƣời khác. Ngƣợc lại với thuyết tự nhiên, những ngƣời theo học thuyết quyền pháp lý cho rằng quyền con ngƣời không phải là những gì bẩm sinh, vốn có mà phải đƣợc nhà nƣớc thừa nhận và quy định trong các quy phạm pháp luật (thành văn hoặc bất thành văn) hoặc xuất phát từ truyền thống văn hóa. Điều này có nghĩa là quyền con ngƣời có thể bị giới hạn bởi ý chí của tầng lớp thống trị và các yếu tố văn hóa, xã hội nhất định của mỗi quốc gia. Nhƣ vậy, trái với quyền tự nhiên gắn với bản thân con ngƣời từ khi sinh ra hoặc thậm chí khi còn là một bào thai trong bụng mẹ, quyền pháp lý do pháp luật tạo ra.
Một quyền hợp pháp có thể đƣợc tòa án bắt buộc phải thi hành nếu bị vi phạm. Tiêu biểu cho những ngƣời ủng hộ quan điểm về quyền pháp lý này là Edmund Burke (1729 – 1797), Jeremy Bentham (1748-1832). Tƣ tƣởng về quyền con ngƣời thực sự trở thành vấn đề mang tính chất toàn cầu và dần đƣợc thể chế hóa toàn diện, có tính hệ thống vào pháp luật và đời sống chính trị quốc tế bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX khi các tổ chức quốc tế lớn ra đời nhƣ: Hội chữ thập đỏ và Trăng lƣỡi liềm đỏ quốc tế (năm 1863), Hội Quốc Liên (1919), Tổ chức lao động Quốc tế (1919). Đặc biệt, sau khi Liên hiệp quốc ra đời năm 1945 và ban hành Tuyên ngôn thế giới về quyền con ngƣời năm 1948 thì vấn đề nhân quyền đã trở thành mục tiêu chung của cả nhân loại, là động lực đấu tranh của tất cả nhân dân trên thế giới.
Trong Lời nói đầu của tuyên ngôn nhân quyền quốc tế năm 1948 có nhấn mạnh: “Việc thừa nhận phẩm giá vốn có, các quyền bình đẳng và không thể tách rời của mọi thành viên trong gia đình nhân loại là cơ sở cho tự do, công bằng và hòa bình trên thế giới”.[2 ] Thông qua Lời nói đầu của tuyên ngôn, quyền con ngƣời đƣợc mặc nhiên hiểu đó là các quyền tự nhiên, vốn có và không thể chuyển nhƣợng đƣợc của các cá nhân. Tuyên ngôn không đƣa ra định nghĩa về quyền con ngƣời mà đi thẳng vào nội hàm của quyền con ngƣời trong đó nêu ra những quyền chính trên cơ sở sự đồng thuận của đông đảo các quốc gia thành viên Liên hiệp quốc. Đối với các nhà nghiên cứu, có một định nghĩa không chính thức nhƣng đƣợc thừa nhận khá rộng rãi đó là định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hiệp quốc về quyền con ngƣời. Theo đó, quyền con ngƣời đƣợc hiểu là: “những bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người.”[7] Theo một số giáo trình của Việt Nam, quyền con ngƣời đƣợc tiếp cận dƣới góc độ là “những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế”.[7] Nhƣ vậy cả định nghĩa của Văn phòng cao ủy Liên hiệp quốc về quyền con ngƣời và định nghĩa của một số nhà nghiên cứu Việt Nam thì quyền con ngƣời đều đƣợc tiếp cận dƣới góc độ là những quyền tự nhiên, vốn có nhƣng phải đƣợc pháp luật ghi nhận và bảo vệ.
Quyền con ngƣời đƣợc coi là những chuẩn mực đƣợc cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ và đƣợc áp dụng cho tất cả mọi ngƣời trên thế giới. Các chuẩn mực này là căn cứ để mọi thành viên trong gia đình nhân loại đƣợc đƣợc bảo vệ nhân phẩm, phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tƣ cách là một con ngƣời. Quyền con ngƣời mang tính phổ quát và bất khả xâm phạm. Tính phổ quát của quyền con ngƣời thể hiện ở chỗ nó đƣợc hầu hết các quốc gia trên thế giới công nhận và tuân thủ.
Quyền con ngƣời là bất khả xâm phạm, không bị tƣớc đoạt, ngoại trừ trong các tình huống cụ thể và theo đúng quy định của pháp luật quốc gia, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế. Ví dụ, quyền tự do có thể đƣợc hạn chế nếu một ngƣời bị kết án là phạm một tội theo quy định của pháp luật bởi một bản án của tòa án có thẩm quyền. Tất cả các quyền con ngƣời đều không thể tách rời, đó có thể là các quyền dân sự và chính trị nhƣ quyền sống, bình đẳng trƣớc pháp luật và tự do ngôn luận; Các quyền quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, nhƣ các quyền đƣợc làm việc, an sinh xã hội và giáo dục; hoặc quyền của nhóm nhƣ quyền phát triển và tự quyết định. Các quyền này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, việc cải thiện một trong những quyền có thể tạo điều kiện đảm bảo tốt các quyền khác.
Trái lại, việc một quyền bị xâm phạm hay tƣớc đoạt cũng có thể ảnh hƣởng xấu đến những quyền khác. Các quyền của con ngƣời thƣờng đƣợc thể hiện và đảm bảo theo quy định của pháp luật quốc gia, các điều ƣớc, cam kết, thỏa thuận hoặc tập quán quốc tế. Luật pháp quốc tế về quyền con ngƣời đặt ra nghĩa vụ đối với mỗi quốc gia thành viên nhằm buộc các quốc gia phải hành động theo những cách nhất định hoặc tránh một số hành vi nhất định để thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền và các quyền tự do cơ bản của cá nhân hoặc nhóm xã hội.2 Quyền dân sự, chính trị của con người 1.1 Khái niệm - Quyền dân sự: Có nhiều định nghĩa khác nhau về quyền dân sự của con ngƣời. Có định nghĩa cho rằng, quyền dân sự là quyền tự do cá nhân thuộc về một cá nhân, do ngƣời đó là một công dân hoặc cƣ dân của một quốc gia, cộng đồng cụ thể [38].
Có định nghĩa lại cho rằng quyền dân sự là các quyền tự do cá nhân của công dân trong một quốc gia thƣợng tôn pháp luật.