Chương 1: TIỀN ĐỀ CHO S RA ĐỜI M HỌC VI T NAM 1. Tư tư ng học truyền thống phương Đ ng và Vi t Na 1. Thời kỳ văn minh từ đồ đồng sang đồ sắt Từ thời đại đồ đá tiến lên thời đại kim khí - thời đại đồ đồng và đồ sắt - là một chuyển biến lớn lao của lịch sử nhân loại. Đó là thời kỳ k thuật luyện kim, thời kỳ xuất hiện những nền văn minh và nhà nước đ u tiên, và c ng là thời kỳ mở đ u sự nghiệp dựng nước của dân tộc.
Trên l nh thổ Việt Nam, nền văn minh sớm nhất là nền văn minh sông Hồng gắn liền với nền văn hóa Đông Sơn nổi tiếng, với quá trình hình thành nước Văn Lang đời Hùng Vương và nước Âu Lạc đời An Dương Vưong Di tích văn hóa Đông Sơn phân bố rộng khắp miền Bắc Việt Nam trên lưu vực sông Hồng, sông M , sông Lam. Văn hóa Đông Sơn tồn tại trong khoảng 7-8 thế kỷ trước công nguyên đến 1-2 thế kỷ sau công nguyên, thuộc thời kỳ thịnh đạt của đồ đồng và sơ kỳ đồ sắt. Đó là sự hội tụ của nhiều chặng đường dẫn đến Đông Sơn. Trên lưu vực sông Hồng, khảo cổ học đ xác lập được một phổ hệ gồm 3 giai đoạn: Trước Đông Sơn diễn ra trong thiên kỷ 1 trước công nguyên: Giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên thuộc sơ kỳ đồng thau.
Giai đoạn văn hóa Đồng Đậu thuộc trung kỳ đồng thau. Giai đoạn văn hóa G Mun thuộc hậu kỳ đồng thau. Đến văn hóa Đông Sơn thì các loại hình địa phương vẫn tồn tại nhưng tính thống nhất văn hóa trở nên bao trùm và chi phối. Dù thuộc di tích nào, ở địa phương nào, văn hóa Đông Sơn vẫn mang những đặc trưng chung biểu thị trong các loại hình di vật văn hóa gồm công cụ rìu, cuốc, x ng, lư i cày.
v khi rìu chiến, dao găm, m i giáo, m i tên. , đồ dùng và trang sức 7 z thạp, thổ, v ng tay, khuyên tai. trong k thuật chế tác và trong nghệ thuật trang trí. Văn hóa Đông Sơn vừa có cội rễ bản địa, vừa qua giao lưu và hội nhập, tiếp thụ một số ảnh hưởng văn hóa bên ngoài từ phương Bắc và từ phương Nam.
Quá trình thống nhất văn hóa Đông Sơn c ng là quá trình liên kết các nhóm cư dân Việt cổ - người Lạc Việt và người Âu Việt - thành một cộng đồng quốc gia với một hình thái nhà nước sơ khai. Đó là nước Văn Lang đời Hùng Vương và tiếp theo là nước Âu Lạc đời An Dương Vương. Nước Văn Lang và Âu Lạc ra đời trên một nền tảng kinh tế đ phát triển, chủ yếu là nông nghiệp trồng lúa nước đạt đến trình độ dùng lư i cày bằng đồng thau và sức kéo của trâu, b. Chăn nuôi có chó, lợn, gà, vịt, trâu, b , voi.
Nghề thủ công có đúc đồng, luyện sắt, làm đồ gốm, đan lát , mộc, dệt, sơn. Nhà cửa, trang phục, nhiều phong tục tập quán, sinh hoạt văn hóa c n được ghi lại bằng hình ảnh trên các di vật Đông Sơn, nhất là trên trống đồng. Tiếp nối nước Văn Lang, nước Âu Lạc ra đời vào nửa sau thế kỷ III trước công nguyên, c n để lại dấu tích của kinh đô Cổ Loa Đông Anh - Hà Nội 1. Văn hóa th m m từ lập nước tới trước thời Lý(1010) Giai đoạn trước cổ điển được đánh dấu bắt đ u từ thời đại nguyên thủy, sau đó là thời đại dựng nước và được kết thúc là thời kỳ Bắc thuộc.
Thời Âu Lạc, người Việt đ đạt đến trình độ tương đối cao về canh tác, họ đ biết sử dụng hệ thống thủy lợi. Công cụ đồ sắt đ xuất hiện vào cuối thời Hùng Vương. Có thể nói, người Việt đ đạt đến sự ngang bằng về trình độ sản xuất so với k đô hộ, và điều này khiến cho sự phát triển về văn hóa trở nên nổi bật. Bởi vì, đây là thời kỳ văn hóa nguyên khai của các dân tộc, tất cả những thành tựu văn hóa bản địa đều nảy sinh trên cơ sở văn minh bản địa – chứa đựng đặc tính tộc người riêng biệt được hình thành trong những điều kiện sống tự nhiên đặc thù.
Tuy nhiên, văn minh phương Bắc đạt đến sự phân chia đẳng cấp trong x hội phát triển hơn văn minh Lạc Việt ở trình độ của quan hệ sản xuất. Sự tác 8 z động có ý nghĩa của thiết chế bộ máy đô hộ phương Bắc làm thay đổi x hội Việt chủ yếu là ở quan hệ sản xuất chứ không phải sự thay đổi ở lực lượng sản xuất. Trong thời kỳ Bắc thuộc, mặc dù k đô hộ dùng nhiều chính sách và thủ đoạn thâm độc để đồng hóa dân tộc nhằm Hán hóa Việt tộc và nền văn hóa Việt song nhân dân ta vẫn bảo tồn và không ngừng phát triển nền văn hóa bản địa, nội sinh đ được tích l y qua hàng ngàn năm lịch sử trước đó. Bởi vậy, mặc dù chữ Hán và tiếng Hán được du nhập ồ ạt vào Việt Nam nhưng không thể tiêu diệt được tiếng nói của dân tộc, nhân dân ta vẫn sống theo cách sống riêng của mình theo cuộc sống và tâm hồn Việt Nam.
Những phong tục, tập quán tốt đẹp của thời kỳ Văn Lang – Âu Lạc vẫn được gìn giữ như tục nhuộm răng, ăn tr u, đấu vật, chọi trâu, đá c u, đánh đu, ném c n… Trong các lễ hội ngàn năm như hội làng, hội mùa xuân, mặc dù có những biến đổi ít nhiều trong các nghi lễ nhưng tính chất căn bản của nó vốn có từ thời Văn Lang, Âu Lạc vẫn được bảo lưu. Trong các gia đình người Việt từ xa xưa đ định hình một quan hệ ứng xử đẹp đẽ như thờ cúng tổ tiên, kính trọng ông bà, cha mẹ, anh em thuận h a và nhường nhịn nhau. Nho Hán và văn hóa Hán truyền bá vào Việt Nam nhưng vẫn không thể làm thay đổi truyền thống văn hóa đó của dân tộc. người Việt vẫn từ chối tư tưởng gia trưởng nặng nề, xem khinh phụ nữ của người Hán.
Nhìn chung, dưới thời Bắc thuộc, chữ Hán và Nho giáo cùng với toàn bộ hệ tư tưởng phong kiến Trung Hoa không xâm nhập và không ảnh hưởng nhiều đến các làng xóm người Việt cổ. Trong cuộc đấu tranh lâu dài, phức tạp để bảo vệ di sản văn hóa truyền thống thời Bắc thuộc, nhân dân ta đ biết tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa của văn hóa ngoại nhập phù hợp với đặc tính, tâm hồn Việt Nam để làm phong phú thêm văn hóa truyền thống. Điều này được thể hiện ở chỗ trong hơn một nghìn năm đô hộ, tiếng nói của dân tộc Việt Nam đ trải qua một quá trình đơn âm tiết hóa và thanh điệu hóa. Bởi vậy, bên cạnh những âm tiết thu n Việt c n có nhiều âm tiết Hán - Việt.
9 z Trên cơ sở ý thức dân tộc và tinh th n tự cường nhưng không bảo thủ, đóng kín, nhân dân ta đ biết kết hợp giữa truyền thống và cách tân cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử, đ tiếp thu một số cái hay, cái đẹp của văn hóa ngoại nhập. Đó là sự tiếp thu có chọn lọc, có ý thức, có sự dung hợp. Điều này được thể hiện ở nhiều lĩnh vực như từ tập quán gi gạo bằng tay đ chuyển sang lối gi gạo bằng cối đạp từ đ u Công nguyên; từ tập tục ở nhà sàn, d n d n người Việt chuyển sang ở nhà nền đất nện; trong trang phục, y phục, nghệ thuật c ng phong phú, đa dạng và phát triển cao hơn trên cái căn bản của nền văn hóa cổ truyền. Nhìn chung, những thay đổi trên đây về tư tưởng văn hóa c ng đ dẫn đến sự biến đổi trong tâm lý cộng đồng.
Trong x hội Việt cổ, phương thức tư duy mới ch dừng lại ở tính biểu tượng được thể hiện qua tín ngư ng dân gian, các truyện th n thoại, tuy c n chất phác nhưng đ vươn tới kiểu nhận thức hướng tới tính chất “v trụ luận”. Khoảng thế kỷ I trước Công nguyên, Phật giáo từ Ấn Độ đ ảnh hưởng vào nước ta. Thời kỳ Bắc thuộc là thời kỳ Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo trở thành hệ tư tưởng dẫn dắt văn hóa Đại Việt phát triển rực r. M học n trong nghệ thuật Nhìn chung, ở thời kỳ trước cổ điển, nền văn hóa nước ta phát triển khá rực r đặc biệt là ở thời kỳ Bắc thuộc, nhân dân ta không những gìn giữ được nền văn hóa bản địa truyền thống mà c n biết tiếp thu một cách có chọn lọc những tư tưởng tinh hoa của các dân tộc khác để làm phong phú cho nền văn hóa của mình.
Tuy nhiên, ở thời kỳ này vẫn chưa xuất hiện những tư tưởng về m học mà m học được n trong nghệ thuật, cụ thể là nghệ thuật đồ đồng mà chủ yếu là trống đồng và trong văn học dân gian. a) Nghệ thuật đồ đồng ti u i u là trống đồng Dân cư thời kì này đ đạt đến một trình độ th m m , tư duy trừu tượng khá cao, điều này được thể hiện rất r ở trong nghệ thuật đồ đồng mà tiêu biểu là trống đồng. 10 z Trong cuộc sống, con người thời kỳ này rất thích cái đẹp và luôn hướng đẹp. Từ đồ trang sức, công cụ lao động và đồ dùng trong sinh hoạt c ng như các v khí đều hết sức phong phú, nhiều hình, nhiều v.
Nghệ thuật Đông Sơn trở thành đ nh cao của nghệ thuật tạo hình thời kỳ này. Nghệ thuật đó vừa phản ánh cuộc sống thường nhật của cư dân Việt cổ vừa thể hiện mối quan hệ giữa con người với thế giới xung quanh. Những đường nét có tính ước lệ, cách điệu và một bố cục cân xứng, hài h a trong nghệ thuật Đông Sơn đ thể hiện điều đó. Nghệ thuật âm nhạc thời kỳ này rất phát triển, nhạc cụ gồm nhiều loại mà tiêu biểu nhất là trống đồng.
Kết cấu của trống đồng gồm có ph n tang phình ra, ph n thân và chân trống loe ra giúp cho hình dáng trống đẹp mà có sức cộng hưởng làm cho âm thanh vang xa. Cư dân bấy giờ biết sử dụng nhiều nhạc cụ phối hợp trong các lễ hội. Trên Thạp đồng Đào Thịnh có cảnh sử dụng dàn trống đồng từ 2 đến 4 chiếc, dàn cồng từ 6 đến 8 chiếc và một tốp người vừa múa, vừa sử dụng những nhạc khí khác nhau như chuông, khèn, sênh. Trên trống đồng có hình ảnh người nhảy múa hóa trang và múa v trang.