mở đầu, kết luận, khuyến nghị, phụ lục, tài liệu tham khảo luận văn gồm hai chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng di tích lịch sử- cách mạng ở địa phƣơng trong dạy học Lịch sử ở trƣờng THPT. Chƣơng 2: Một số hình thức, biện pháp sử dụng di tích lịch sử- cách mạng ở địa phƣơng trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 lớp 12 THPT tỉnh Tuyên Quang (Chƣơng trình chuẩn). Thực nghiệm sƣ phạm.
19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN CỦA VIỆC SỬ DỤNG DI TÍCH LỊCH SỬ- CÁCH MẠNG Ở ĐỊA PHƢƠNG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Di tích lịch sử - cách mạng trong dạy học lịch sử ở trường THPT 1. Quan niệm về di tích và di tích lịch sử- văn hóa Về tên gọi chung, hiểu theo ý nghĩa ban đ ầu thì di tích là những “dấu vết, mảnh vụn” còn sót lại của các thời đại trƣớc gắn liền với những nhân vật, sự kiện, hiện tƣợng, biến cố lịch sử. Ta cũng dễ dàng nhận thấy, từ xa xƣa nhiều nƣớc trên thế giới đã đặt tên chung cho di tích lịch sử là dấu tích, dấu vết còn lại.
Tiếng Pháp viết vestiges, tiếng Anh cũng viết vestiges,tiếng Nga viết pomiatnik, tiếng Trung Quốc viết cổ tích. Quá trình nghiên cứu di tích đã đƣợc các nhà sử học quan tâm từ rất lâu và đƣa ra nhiều khái niệm khác nhau: Theo “Tự điển tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam (Xuất bản năm 2006 thì: “Di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử”. Theo hiến chƣơng Vơnije- Italia năm 1946 thì di tích bao gồm “ những công trình xây dựng riêng lẻ, những khu di tích ở đô thị hay nông thôn, là bằng chứng của một nền văn minh riêng biệt, của một sự tiến hóa có ý nghĩa hay là một biến cố về lịch sử” [12- Tr50]. Điều này cho phép chúng ta khẳng định rằng di tích là những công trình có thật, là sản phẩm vật chất do con ngƣời sáng tạo ra cùng với cuộc sống lao động của mình.
Di tích đƣợc phân bố ở khắp mọi nơi, bất kỳ đâu mà con ngƣời đã và đang sinh sống. Còn theo luật di sản văn hóa của nƣớc ta, Quốc hội nƣớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, kỳ họp thứ IX, Quốc hội khóa X thông qua ngày 29/ 6/ 2001 quy định “ di tích là công trình được xây dựng, địa điểm và các di 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học [12- tr 53]. Gọi chung là di tích lịch sử-văn hóa vì chúng do con ngƣời (tập thể hoặc cá nhân ) hoạt động sáng tạo lịch sử,con ngƣời hoạt động văn hóa mà hình thành nên. Văn hóa ở đây bao gồm cả văn hóa vật chất, văn hóa xã hội và văn hóa tinh thần.
Theo pháp lệnh bảo vệ và sử dụng tích lịch sử -văn hóa và danh lam thắng cảnh, công bố ngày 4/4/1984 thì di tích lich sử- văn hóa đƣợc quy định nhƣ sau; “Di tích lịch sử -văn hóa là những công trình được xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và các tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật, cũng như có giá trị văn hóa khác, hoặc liên quan đến các sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa xã hội. Theo đại từ điển tiếng Việt: “Di tích lịch sử - văn hóa là tổng thể những công trình, địa điểm, đồ vật hoặc tác phẩm, tài liệu có giá trị lịch sử hay văn hóa được lưu lại.” Theo luật di sản văn hóa Việt Nam 2001 Điều 4 Chƣơng 1 thì : “Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.” Theo luật di sản văn hóa đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 18 tháng 5 năm 2009 có nêu :Di tích lịch sử - văn hóa là: “Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương; thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử, địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu.Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật của giai đoạn đó ở một địa điểm cụ thể, nhất định.” 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trên góc độ khoa học, giáo trình của trƣờng Đại học Văn hóa đã đƣa ra định nghĩa khái quát nhƣ sau: “ Di tích lịch sử - văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại” [16- Tr 24]. Di tích lịch sử- cách mạng và cách phân loại Lịch sử là bản thân hiện thực khách quan, với tất cả những sự kiện lớn nhỏ đã xảy ra, tạo nên một quá khứ nối tiếp nhau qua các thời kỳ. Hiện thực khách quan này là có thể nhận thức đƣợc.
Lịch sử loài ngƣời bắt đầu từ khi con ngƣời xuất hiện, xã hội hình thành. Trải qua hàng triệu năm đấu tranh vì sự sinh tồn và phát triển, từ khi xuất hiện con ngƣời tối cổ đến ngày nay, lịch sử đã để lại những dấu vết, minh chứng cho quá khứ có thật của mình. Một trong những dấu vết quan trọng đó là di tích lịch sử. Hay nói một cách khác, trong tiến trình lịch sử, con ngƣời đã sáng tạo ra những sản phẩm văn hoá đặc trƣng cho thời đại mình hoặc ngƣời đời sau tạo dựng nên nhằm tƣởng niệm những gì đã qua.
Những sản phẩm của lịch sử đó còn lƣu lại đến nay cũng đƣợc coi là di tích lịch sử, mang tính chất bằng chứng (temoignage) của lịch sử: “Bằng chứng là những dấu vết của dĩ vãng còn để lại nhằm mục đích bảo tồn quá khứ hoặc chỉ dẫn cho hậu thế về những sự việc xảy ra trong quá khứ” [43- Tr154]. Một công trình kiến trúc có giá trị đƣợc gìn giữ lại, một bức hoạ khắc trên vách đá do ngƣời nguyên thuỷ để lại, nơi họp hội nghị Trung ƣơng Đảng Cộng sản, quyết định những vấn đề chiến lƣợc cách mạng cho đất nƣớc trong thời kỳ hoạt động bí mật…ngƣời ta đều có thể gọi chúng là di tích lịch sử. Bởi vì, chúng đều là sản phẩm của lịch sử để lại. Vậy, di tích lịch sử là những dấu vết, những chứng tích vật chất ghi lại, phản ánh một sự kiện, nhân vật hoặc quá trình lịch sử đã qua.
Di tích lịch sử thuộc phạm trù di tích lịch sử- văn hoá. 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ở đây, khái niệm di tích lịch sử đƣợc sử dụng với thời gian, tính từ khi xã hội loài ngƣời bắt đầu phân chia giai cấp, có nhà nƣớc, có chữ viết của mình. Nó còn chỉ những nơi ghi dấu sự hoạt động sáng tạo (của tập thể hoặc nhân vật lịch sử, danh nhân văn hoá) góp phần thúc đẩy lịch sử phát triển. Giới hạn nhƣ vậy là vì bƣớc sang thời đại văn minh, tri thức loài ngƣời đƣợc phân chia ra nhiều ngành khoa học khác nhau, trong đó có ngành khoa học lịch sử Mỗi dân tộc, mỗi đất nƣớc có những đặc điểm lịch sử riêng, ghi dấu lại trong những di tích lịch sử của mình.
Sự ghi dấu ấy có khác nhau về số lƣợng, sự phân bố và nội dung giá trị lƣu giữ ở mỗi di tích nhƣng tựu chung lại, loại hình di tích lịch sử thƣờng bao gồm các loại sau: - Loại di tích ghi dấu về dân tộc học: Đó là những nơi ghi dấu về sự ăn, ở, sinh hoạt của các tộc ngƣời nguyên thuỷ còn để lại (Ví dụ nhƣ nơi ăn, ở, sinh hoạt của tộc ngƣời Rục trên dãy Trƣờng Sơn, phía Tây Quảng Trị, mới phát hiện sau năm 1975). Đó là những quần thể kiến trúc điển hình của các gia đình dân tộc ít ngƣời Tày, Nùng, Dao, Thái, Bana, Êđê, quần thể kiến trúc điển hình của các gia đình nông dân, thợ thủ công ngƣời Việt cƣ trú ở các miền trung, đồng bằng. Trong đó bao gồm nơi thờ cúng tổ tiên, nơi ăn, nghỉ, sinh hoạt, nơi sản xuất thủ công, vƣờn cây…Đó là những ngôi nhà cổ của các gia đình thợ thủ công ở thành phố, chuyên sản xuất bán hang thủ công mỹ nghệ ( Nhƣ: phố Hàng Bạc- Hà Nội, phố cổ Hội An…). - Loại di tích ghi dấu sự kiện chính trị quan trọng, tiêu biểu có ý nghĩa quyết định chiều hướng phát triển của đất nước, của địa phương.
Chẳng hạn nhƣ bến Bình Than, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Hƣng, nơi trƣớc đây vua tôi nhà Trần họp hội nghị bàn kế đánh giặc Nguyên giữ nƣớc; ở thời kỳ hiện đại nhƣ các thôn Vƣờn Trầu huyện Hóc Môn Thành phố Hồ Chí Minh, nơi diễn ra Hội nghị Trung ƣơng đảng lần thứ 6 (1939), quyết định chuyển hƣớng chiến lƣợc cho cách mạng Việt Nam. 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Loại di tích ghi dấu chiến công chống xâm lược nhƣ Bạch Đằng, Chi Lăng, Ngọc Hồi, Đống Đa, Điện Biên Phủ…Ở nƣớc ta từ xƣa cho đến nay, chiến đấu bảo vệ độc lập của tổ quốc thời nào cũng có nên di tích lịch sử về loại này vô cùng phong phú, phân bố rộng khắp. - Loại di tích ghi dấu những kỷ niệm của các anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá. Nhƣ, nhà số 90 phố Thợ Nhuộm (Hà Nội), nơi đồng chí Trần Phú, Tổng bí thƣ đầu tiên của Đảng viết Bản Luận cƣơng chính trị, Khu di tích phủ Chủ tịch… - Loại hình di tích ghi dấu sự vinh quang lao động: Đó là những nơi ăn, ở, làm việc, nghiên cứu của các nhà bác học, các anh hung vĩ đại đã cống hiến nhiều phát minh, sáng kiến khoa học.
Thành quả lao động của họ có ý nghĩa lớn lao đối với thời đại, đối với lịch sử… - Loại di tích ghi dấu tội ác của đế quốc và phong kiến: Đó là những nhà tù, trại giam do đế quốc, phong kiến dựng lên để giam cầm, giết hại các chiến sĩ cách mạng.