mở đầu” v. Có thể xem nội hàm là mặt chất lượng còn ngoại diên là mặt số lượng của KN. Phân loại khái niệm Có nhiều cách để phân loại KN song chúng đều dựa trên cơ sở là nội hàm và ngoại diên của nó. * Dựa vào nội hàm: Có thể phân chia khái niệm thành những loại sau: - KN cụ thể và KN trừu tượng: KN cụ thể phản ánh những khái niệm được xác định trong hiện thực (Ví dụ: đột biến gen, đột biến NST…) còn KN trừu tượng phản ánh các thuộc tính, quan hệ của đối tượng (Ví dụ: có lợi, có hại…).
- KN khẳng định và KN phủ định: KN khẳng định phản ánh sự tồn tại của đối tượng xác định hay các thuộc tính, các quan hệ của đối tượng (Ví dụ: thuần chủng…) còn KN phủ định phản ánh sự không tồn tại của đối tượng hay các thuộc tính, các quan hệ của đối tượng (Ví dụ: không thuần chủng…). - KN đơn và KN kép (KN không tương quan/ tương quan): KN đơn là sự tồn tại của KN này không phụ thuộc vào KN khác còn KN kép là sự tồn tại của khái niệm này phụ thuộc vào khái niệm khác. * Dựa vào ngoại diên: Có thể phân chia khái niệm thành những loại sau: 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - KN riêng: Là khái niệm mà ngoại diên của nó chỉ chứa một đối tượng cụ thể duy nhất (Ví dụ: biến đổi kiểu gen, biến đổi kiểu hình…). - KN chung: Là khái niệm mà ngoại diên chứa một lớp từ hai đối tượng trở lên (biến dị…).
- KN tập hợp: Là khái niệm có ngoại diên chứa lớp đối tượng đồng nhất như một chỉnh thể, không thể tách rời (Ví dụ: nuclêôxôm…). - Khái niệm loại và hạng (hay khái niệm giống và loài): Trong đó KN loại (giống) là khái niệm rộng hơn có ngoại diên phân chia được thành các lớp con như: động vật, đột biến… Còn KN hạng (loài) là khái niệm hẹp hơn có ngoại diên là lớp con được phân chia từ khái niệm loại (giống) như: động vật không xương sống và động vật có xương sống; đột biến gen và đột biến NST… Tuy nhiên cách phân chia này chỉ là tương đối bởi lẽ ta có thể mở rộng và thu hẹp khái niệm. Ví dụ như: đột biến là KN hạng so với KN biến dị nhưng nó lại là khái niệm loại so với KN biến dị di truyền… * KN sinh học có thể được chia làm hai loại: [4] - KN sinh học đại cương: là loại KN phản ánh những cấu trúc, hiện tượng, quá trình, quan hệ cơ bản mà một bộ phận lớn hay hầu hết vật chất sống đều có, ví dụ như: hình thái, cấu trúc, chuyển hóa vật chất và năng lượng, vận động, sinh trưởng - phát triển, sinh sản, tự điều chỉnh… - KN sinh học chuyên khoa: là những KN phản ánh từng cấu trúc, hiện tượng quá trình của một đối tượng hay một nhóm đối tượng nhất định, hay phản ánh từng dạng quan hệ riêng biệt giữa các đối tượng, hiện tượng đó. Ví dụ: hình thái NST, cấu trúc gen phân mảnh ở sinh vật nhân thực, hiện tượng sửa sai của ADN, điều hòa hoạt động của gen ở sinh vật nhân sơ,… 1.
Mối quan hệ giữa các khái niệm Mối quan hệ giữa các khái niệm chính là quan hệ giữa ngoại diên của các khái niệm được chia làm 2 loại cơ bản: quan hệ hợp và quan hệ không hợp: 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com * Quan hệ hợp: gồm quan hệ đồng nhất/quan hệ bao hàm/quan hệ giao nhau/ quan hệ cùng nhau phụ thuộc. - Quan hệ đồng nhất: Hai KN đồng nhất là hai khái niệm có cùng ngoại diên hay nói cách khác ngoại diên của chúng cùng phản ánh một đối tượng. Ví dụ: Dịch mã Tổng hợp protein - Quan hệ bao hàm: Là quan hệ giữa hai KN mà ngoại diên của KN này chứa trong nó ngoại diên của KN khác. Ví dụ: Đột biến Đột biến gen - Quan hệ giao nhau: Chỉ hai KN mà ngoại diên của chúng có một số đối tượng chung.
Ví dụ: Phiên Dịch mã mã - Quan hệ cùng nhau phụ thuộc: Là quan hệ giữa các KN mà ngoại diên của chúng chỉ là một bộ phận ngoại diên của một khái niệm khác. Ví dụ: Cấu trúc Gen Điều Vận hòa hành 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com * Quan hệ không hợp (tách rời): gồm quan hệ ngang hàng/quan hệ mâu thuẫn/quan hệ đối lập (đối chọi) - Quan hệ mâu thuẫn: là quan hệ giữa 2 khái niệm mà nội hàm của chúng phủ định lẫn nhau, còn ngoại diên của chúng hoàn toàn tách rời (không có đối tượng chung) và tổng ngoại diên của chúng đúng bằng ngoại diên của một khái niệm khác (khái niệm giống chung). Ví dụ: Đồng hợp Dị hợp Kiểu gen - Quan hệ đối chọi: là quan hệ giữa 2 khái niệm mà nội hàm của chúng có những thuộc tính trái ngược nhau, còn ngoại diên không có gì trùng nhau và tổng ngoại diên của chúng nhỏ hơn ngoại diên một khái niệm khác (khái niệm giống chung). Ví dụ: Thể ba Thể một Đột biến NST - Quan hệ ngang hàng: là quan hệ giữa các khái niệm cùng một cấp loài mà ngoại diên của chúng tách rời nhau và cùng lệ thuộc vào ngoại diên của khái niệm giống.
Ví dụ: Đột Biến dị Biến Thường Biến Biến dị tổ hợp 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cách phân chia khái niệm Phân chia một KN có nghĩa là chia các đối tượng nằm trong ngoại diên của một KN lớn thành những nhóm nhỏ, xác định xem trong một KN giống có bao nhiêu KN loài. Mục đích của việc phân chia là để củng cố, mở rộng hiểu biết về đối tượng cần nghiên cứu. * Các cách phân chia: - Phân đôi khái niệm: Là hình thức phân chia đặc biệt trong đó ngoại diên của khái niệm bị phân chia được tách ra thành ngoại diên của 2 khái niệm có quan hệ mâu thuẫn với nhau.
Ví dụ: KN “Kiểu gen” - phân đôi thành “KG đồng hợp” và “KG dị hợp” - Phân chia theo sự biến đổi dấu hiệu của KN: Là hình thức phân chia dựa vào KN Giống để phân chia thành các KN loài khác nhau sao cho mỗi loài vẫn giữ được dấu hiệu nào đó của giống, nhưng dấu hiệu đó lại có chất lượng mới trong các loài; đồng thời mỗi loài có một vị trí xác định so với loài khác (dựa vào các căn cứ phân chia khác nhau). Ví dụ: Di truyền Biến dị căn cứ vào tính di truyền Không di truyền Đột biến Biến dị Thường biến căn cứ vào các dạng Biến dị tổ hợp * Các quy tắc phân chia khái niệm: - Phân chia phải cân đối: Ngoại diên của khái niệm bị phân chia phải bằng tổng ngoại diên của các khái niệm thành phần. => Nếu vi phạm sẽ dẫn đến: Phân chia nhiều thành phần (ngoại diên các KN Thành phần > ngoại diên KN bị phân chia) hoặc phân chia thiếu thành phần (ngoại diên các KN Thành phần < ngoại diên KN bị phân chia). 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Phân chia phải nhất quán: Khi phân chia khái niệm bị phân chia phải dựa trên cùng một căn cứ, một dấu hiệu bản chất nào đó để phân chia.
=> Nếu vi phạm dẫn đến phân chia mất cân đối thường là phân chia thừa thành phần. - Phân chia phải tránh trùng lắp: Nghĩa là các thành phần phân chia là những khái niệm tách rời nhau (ngoại diên loại trừ nhau), ngoại diên của chúng không thể là các KN có quan hệ hợp nhau. => Nếu vi phạm sẽ dẫn tới phân chia thành các K/n có quan hệ hợp nhau -> trùng lắp - > Mất cân đối. - Phân chia khái niệm phải tuần tự, liên tục: Phân chia phải từ KN Giống thành các KN Loài gần gũi trước sau đó mới tới Loài xa hơn.
=> Nếu vi phạm sẽ dẫn đến sự nhảy vọt trong quá trình phân chia khái niệm. Cách định nghĩa khái niệm * Các quy tắc định nghĩa khái niệm: - Quy tắc 1: Định nghĩa phải tương xứng (cân đối) Nghĩa là ngoại diên của khái niệm được định nghĩa đúng bằng ngoại diên của khái niệm dùng để định nghĩa: Dfd = Dfn. Nếu vi phạm quy tắc này sẽ dẫn đến một định nghĩa quá rộng (Dfd<Dfn) như: “Gen là một đoạn của phân tử ADN”. Hoặc một định nghĩa quá hẹp (Dfd>Dfn) như: “Mã di truyền là mã bộ ba mã hóa cho axit amin” - Quy tắc 2: Định nghĩa phải rõ ràng, chính xác (không được định nghĩa theo kiểu ví von, vòng quanh, luẩn quẩn) Nghĩa là khái niệm dùng để định nghĩa phải là khái niệm đã biết, đã được định nghĩa từ trước.
Nếu dùng một khái niệm chưa được định nghĩa để định nghĩa một khái niệm khác thì không thể vạch ra được nội hàm của khái niệm cần định nghĩa, tức là không định nghĩa gì cả. Khi đó sẽ trở thành định nghĩa vòng quanh như: “Tự sao là quá trình tự nhân đôi”. Định nghĩa luẩn quẩn như: “Biến đổi kiểu gen là kiểu gen bị biến đổi”. Hay định nghĩa không rõ ràng, không chính xác (sử dụng các hình tượng nghệ thuật để định nghĩa) như: “Đột biến là nguồn nguyên liệu vô cùng quý giá của tiến hóa”.
15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Quy tắc 3: Định nghĩa phải ngắn gọn (không có từ nhiều nghĩa và không có từ thừa) Yêu cầu của quy tắc này là định nghĩa không chứa những thuộc tính có thể suy ra từ những thuộc tính khác đã chỉ ra trong định nghĩa. Nếu vi phạm quy tắc này sẽ dẫn tới một định nghĩa dài dòng. Ví dụ như: “Dịch mã là quá trình sao chép từ ADN thành ARN thành Protein”. - Quy tắc 4: Định nghĩa không thể là phủ định Định nghĩa phủ định không chỉ ra được nội hàm của khái niệm được định nghĩa.
Vì vậy, nó không giúp cho chúng ta hiểu được ý nghĩa của khái niệm đó. Ví dụ như: “Đột biến gen không phải là đột biến nhiễm sắc thể”. * Các bước định nghĩa khái niệm: - Bước 1: Tìm ra các dấu hiệu chung, dấu hiệu bản chất của sự vật hiện tượng được phản ánh trong KN. - Bước 2: Xác định nội hàm và ngoại diên của KN thông qua ba câu hỏi: + Đối tượng được phản ánh đó cụ thể là những sự vật hiện tượng gì? + Bản chất của đối tượng là như thế nào? + Dựa vào đâu để phân biệt đối tượng đó với các đối tượng khác? - Bước 3: Mở rộng và thu hẹp KN: Xác định những KN rộng hơn và những KN hẹp hơn KN cần định nghĩa.
Bước 4: Phát biểu định nghĩa KN.