Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BỒI DƯỠNG TƯ DUY PHÊ PHÁN VÀ TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH THÔNG QUA BÀ I TẬP THÍ NGHIỆM VẬT LÍ 1. Tư duy và đă ̣c điểm của tư duy a) Khái niê ̣m về tư duy Tư duy là quá trình nhận thức khái quát và gián tiếp, phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ có tính quy luật trong quá trình vận động của tự nhiên và xã hội. b) Tư duy có những đặc điểm sau Trong nhiều nhà tâm lí học đã chỉ ra một số đặc điểm chính của tư duy là: - Tư duy có tính định hướng: thể hiện ở sự xác định nhanh chóng và chính xác đối tượng cần lĩnh hội, mục đích phải đạt và những con đường tối ưu để đạt mục đích đó. - Tư duy có tính nhân rộng: Thể hiện ở chỗ có khả năng vận dụng nghiên cứu các đối tượng khác.
- Tư duy có tính chiều sâu: thể hiện ở khả năng nắm vững ngày càng sâu sắc bản chất của sự vật, hiện tượng. - Tư duy có tính tính linh hoạt: thể hiện ở sự nhạy bén trong việc vận dụng những tri trức và cách thức hành động vào các tình huống khác nhau một cách sáng tạo. - Tư duy có tính tính mềm dẻo: thể hiện ở hoạt động tư duy được tiến hành theo các hướng xuôi và ngược chiều - Tư duy có tính tính độc lập: thể hiện ở chỗ tự mình phát hiện được vấn đề, đề xuất cách giải quyết và tự giải quyết vấn đề. - Tư duy có tính tính khái quát: thể hiện ở chỗ khi giải quyết mỗi loại nhiệm vụ sẽ đưa ra mô hình khái quát.
Từ mô hình khái quát này có thể vận dụng để giải quyết các nhiệm vụ cùng loại. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phân loại tư duy Có nhiều cách phân loại tư duy tùy thuộc vào việc chọn dấu hiệu phân loại. Trong DHVL, người ta quan tâm đến các loại tư duy chủ yếu sau: - Tư duy kinh nghiệm: Là tư duy chủ yếu dựa trên kinh nghiệm cảm tính và sử dụng phương pháp "thử và sai" - Tư duy lí luận: Là tư duy giải quyết nhiệm vụ được đề ra dựa trên sử dụng những khái niệm trừu tượng, những tri thức lí luận.
Nhờ có loại tư duy này mà con người có thể đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng, phát hiện được qui luật vận động của chúng và sử dụng tri thức để cải tạo thế giới tự nhiên, phục vụ lợi ích của mình. - Tư duy vật lí: Là sự quan sát các hiện tượng vật lí, phân tích một hiện tượng phức tạp thành những bộ phận đơn giản và xác lập giữa chúng những mối quan hệ và những sự phụ thuộc xác định, tìm ra mối liên hệ giữa mặt định tính và mặt định lượng của các hiện tượng và các đại lượng vật lí, dự đoán các hệ quả mới từ các lí thuyết và áp dụng những kiến thức khái quát thu được vào thực tiễn. Tư duy phê phán và tư duy sáng ta ̣o 1. Tư duy phê phán * Đinh ̣ nghiã về TDPP Robert Ennis phát biểu về tư duy phê phán như sau: “Tư duy phê phán là sự suy nghĩ sâu sắc, nhạy cảm, thực tế và hữu ích để quyết định niềm tin hay hành động”.
[37] Richard Paul phát biểu về tư duy phê phán từ một góc nhìn khác biệt so với các tác giả trước ông: “Tư duy phê phán là một mô hình tư duy - về một chủ đề, một vấn đề, một nội dung bất kỳ - trong đó chủ thể tư duy cải tiến chất lượng tư duy của mình bằng việc điều khiển một cách thành thạo các cấu trúc nền tảng có sẵn của tư duy và áp đặt các tiêu chuẩn của hành động trí tuệ lên quá trình tư duy của mình”. [39] Michael Scriven thì cho rằng tư duy phê phán là “một năng lực học vấn cơ bản, tương tự như là đọc và viết vậy”, và phát biểu như sau: “Tư duy phê phán là khả nă nghành đ ộ ng đ ể thấ u hiể u và đ ánh giá đ ư ợ c nhữ ng dữ 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com liệ u thu thậ p đ ư ợ c thông qua quan sát, giao tiế p, truyề n thông, và tranh luậ n”. Trên thực tế 2 kĩ năng này bổ sung và cũng có thể thay thế cho nhau. Tư duy phê phán có thể có các biểu hiện sau: - Quan sát - Luôn luôn tò mò đặt câu hỏi và tìm những nguồn trả lời cần thiết cho mình - Luôn kiểm tra và tự thử thách những điều mình vốn tin, những quan điểm, suy nghĩ, những giả sử mình hay người khác đặt ra xem chúng có đúng sự thật không? - Nhận thức được và nêu ra được vấn đề - Đánh giá độ vững chắc của tư duy và lập luận - Đưa ra những quyết định sáng suốt và tìm ra được những giải pháp, những lời giải vững chắc - Hiểu về tư duy logic và logic nói chung 1.
Tư duy sáng tạo Theo Phan Thị Luyến (2009): "TDST là quá trình biến đổi thông tin thành tri thức hoặc tri thức đã biết thành tri thức mới bằng các hiện tượng tâm lí". [16] "Tư duy sáng tạo, quá trình suy nghĩ giải quyết vấn đề và ra quyết định, quá trình biến đổi thông tin được coi là tương đương về nghĩa". Tư duy sáng tạo là đỉnh cao nhất của các quá trình hoạt động trí tuệ của con người. Tư duy sáng tạo được xác định bởi chất lượng hoạt động trí tuệ ở mức độ cao với các phẩm chất quan trọng: Tính mềm dẻo, tính linh hoạt, tính độc đáo và tính nhạy cảm của tư duy.
Quá trình sáng tạo của con người thường bắt đầu từ một ý tưởng mới, bắt nguồn từ TDST của mỗi người. TDST thường có các biểu hiện sau: - Có tư duy độc lập và biết nhận xét, phê phán theo quan điểm riêng không phụ thuộc, gò bó vào những cái cũ, không tư duy theo lối mòn. - Luôn đi vào các vấn đề bản chất nhằm tìm ra quy luật. - Có khả năng dự báo và say sưa nung nấu các ý tưởng mới 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Luôn tìm ra được giải pháp tối ưu trước một tình huống mới, một vấn đề cần giải quyết.
Rèn luyện năng lực TDST cho HS là nhiệm vụ hàng đầu của nền giáo dục và đào tạo nước ta. Mố i quan hê ̣ giữa tư duy sáng tạo và tư duy phê phán TDST và TDPP như là một cặp phạm trù không thể tách rời nhau. Cả hai mặt này đều được sử dụng và khái quát các ý tưởng. Khi cố gắng giải quyết một vấn đề chúng ta cần xem xét vấn đề đó dưới nhiều góc độ khác nhau, dưới nhiều tình huống khác nhau từ đó đưa ra các cách giải quyết phù hợp.
Sáng tạo không chỉ tìm ra giải pháp mới cho vấn đề đặt ra mà còn là tìm ra giải pháp tốt hơn và vì vậy đòi hỏi có những đánh giá, phê bình. TDPP và TDST đều thuộc loại tư duy độc lập, là loại tư duy bậc cao chỉ có ở con người. TDST chủ yếu tạo ra các ý tưởng mới, các giải pháp mới, còn TDPP chủ yếu đánh giá các ý tưởng và các giải pháp đó. TDPP tạo điều kiện thuận lợi cho TDST phát triển và ngược lại TDST cũng tạo điều kiện phát triển TDPP [16].
Và kết quả cuối cùng là các vấn đề đặt ra được giải quyết một cách thấu đáo nhất. Bàn về vấn đề này, tác giả Trần Vui cho rằng: TDST bao gồm những kĩ năng như tính tổng hợp các ý tưởng, tổng quát các ý tưởng, áp dụng các ý tưởng. TDST có tính phát triển liên tục. Các “sản phẩm” trước đó được mở rộng hơn, sâu sắc hơn, hợp lý hơn, tối ưu hơn… Rồi những sáng tạo này lại được phê phán và dẫn tới một cách giải quyết mới, một bài toán mới [36].
Theo tác giả Nguyễn Bá Kim, tính linh hoạt, tính độc lập và phê phán là những điều kiện của TDST. Tính sáng tạo được thể hiện rõ nét ở khả năng tạo ra cái mới: phát hiện vấn đề mới, tìm hướng đi mới, tạo ra kết quả mới, tạo ra sản phẩm mới [14]. Còn theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn thì ông cho rằng muốn có óc sáng tạo phải có óc phê phán; muốn có óc phê phán phải có tinh thần sáng tạo. Thật vậy, TDPP và TDST là một loại tư duy độc lập, mang tính cá nhân mà bản thân trong mỗi 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com con người là tổng hòa của các mối quan hệ và chúng tồn tại trong một chỉnh thể thống nhất với nhau, hỗ trợ cho nhau cùng phát triển [29].
Như vậy, ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta cần củng cố và rèn luyện TDPP và TDST cho người học. Chúng ta phải coi trọng cả hai loại tư duy này mà không được coi nhẹ hay tách rời chúng ra khỏi nhau. Rèn luyêṇ tư duy sáng tạo và tư duy phê phán cho ho ̣c sinh Để rèn luyện TDPP và TDST cho học sinh, cần tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh nhằm rèn luyện cho học sinh một số kĩ năng cơ bản như: Kĩ năng đặt câu hỏi và tự đặt câu hỏi; kĩ năng suy nghĩ độc lập, kĩ năng tư duy tập thể… Thực tế cho thấy rằng nhiều khi chúng ta không thực sự hiểu về các câu hỏi và các vấn đề vốn đòi hỏi phải được hiểu một cách thấu đáo. Khi các câu hỏi và các vấn đề được nêu ra rõ ràng và chính xác, chúng ta sẽ có thể trả lời và giải quyết vấn đề một cách dễ dàng hơn.
Hiển nhiên là, khi điều định hỏi được định hình một cách rõ ràng trong óc, việc tìm kiếm thông tin để có thể trả lời cho câu hỏi đó một cách xác đáng nhất sẽ không còn là điều khó [16]. Do đó, trong những dấu hiệu trên thì cách “đặt câu hỏi” là một dấu hiệu hàng đầu, việc thực hành thường xuyên một số câu hỏi dưới đây có thể giúp học sinh suy nghĩ, đánh giá về cách tư duy của mình nhằm nâng cao chất lượng của quá trình tư duy: - Cách suy nghĩ, lập luận của mình như thế có cần thiết không? - Cách suy nghĩ, lập luận của mình như thế đã rõ ràng chưa? - Cách suy nghĩ, lập luận của mình như thế đã chính xác chưa? - Cách suy nghĩ, lập luận của mình như thế đã phù hợp với vấn đề chưa? - Cách suy nghĩ, lập luận của mình như thế đã đề cập tới tính phức tạp của vấn đề chưa?