Chương 1: Cơ sở lý luận về sự đồng cảm trong quan hệ bạn bè của học sinh trung học phổ thông Chương 2: Tổ chức và phƣơng pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu về sự đồng cảm trong quan hệ bạn bè của học sinh trung học phổ thông huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ ĐỒNG CẢM TRONGQUAN HỆ BẠN BÈ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu ở trên thế giới Sự đồng cảm đƣợc hiểu nhƣ là sự cảm thông, sự chia sẻ cảm xúc với ngƣời khác. Sự đồng cảm đã đƣợc các nhà khoa học trên thế nghiên cứu từ những năm 1909 cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về nó.
- Các nghiên cứu về cấu trúc của đồng cảm Nghiên cứu về sự đồng cảm các nhà nghiên cứu, nghiên cứu về bản chất hay là các thành phần của đồng cảm. Hƣớng nghiên cứu này đƣợc tiến hành theo 3 xu thế.Lipps (1903, 1905), Greenson (1960), Stoland (1969), Mehrabian & Epstein (1972), Hoffman (1987), Batson (1991), Gillett (1993) đã nghiên cứu sự đồng cảm về mặt xúc cảm, tình cảm. Từ đó đồng cảm đƣợc hiểu là một quá trình cảm xúc, cụ thể là “Sự chia sẻ cảm xúc”của chủ thể đối với khách thể. Cơ sở của nó là lây lan cảm xúc (emotional contagion) hay bắt chƣớc cảm xúc của ngƣời khác.
Ở xu hƣớng này các tác giả mới chỉ nghiên cứu về mặt cảm xúc, tình cảm của sự đồng cảm mà chƣa nghiên cứu đa chiều đa thành tố. Nhìn chung các tác giả đều nhận định đồng cảm là sự chia sẻ cảm xúc giữa con ngƣời với con ngƣời dựa trên cơ chế lây lan cảm xúc. Đây là chỉ là một mặt một thành tố của sự đồng cảm mà chƣa nghiên cứu đồng cảm ở nhiều chiều hƣớng khác nhau. Ở xu hƣớng thứ 2, Kohler (1929) chứng minh rằng đồng cảm là sự hiểu biết về cảm xúc của ngƣời khác hơn là sự chia sẻ cảm xúc.
Cùng tƣ tƣởng với ông, G. Piaget (1932) cũng đã đƣa ra các quan điểm nhấn mạnh góc độ nhận thức của sự đồng cảm. Hai ông cho rằng, đồng cảm khác với cảm thông. Đồng cảm là một năng lực cá nhân – đảm nhận vai trò nhƣ là phƣơng tiện để hiểu cách ngƣời khác nhìn nhận về thế giới [39].
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Những tác giả đề cao vai trò nhận thức trong sự đồng cảm có thể kể đến Dymond (1949), Hogan (1969), Wispe (1986), Ickes (1993, 1997)… theo cáctác giả này đồng cảm đƣợc hiểu là một quá trình nhận thức - một quá trình nhận thức cảm xúc gián tiếp thông qua quá trình đặt mình vào vị trí ngƣời khác (projection), mô phỏng và tƣởng tƣợng. Nhƣ vậy, đối lập với xu hƣớng trên ở xu hƣớng này các tác giả lại nghiên cứu sự đồng cảm nhƣ một năng lực nhận thức – một quá trình nhận thức cảm xúc của ngƣời khác. Từ đó đƣa ra nhận định đồng cảm là sự hiểu biết về cảm xúc của ngƣời khác hơn là một sự chia sẻ cảm xúc. Nhấn mạnh về mặt nhận thức của sự đồng cảm, đó cũng là hạn chế của xu hƣớng nghiên cứu này.
Nhiều nhà nghiên cứu khác đã nghiên cứu sự đồng cảm nhƣ là một khái niệm đa chiều, trong đó tình cảm và nhận thức ảnh hƣởng lẫn nhau, khó tách bạch ra đƣợc (Deutsch & Madle (1975); Feshbach (1976)). Sự đồng cảm có cấu trúc bao gồm các thành phần của nhận thức và của cả tình cảm. Một số tác giả cho rằng sự tồn tại của tình cảm và nhận thức trong đồng cảm là đƣơng nhiên, là quy luật, là sẵn có. Nếu thiếu đi một yếu tố thì đồng cảm sẽ không còn là đồng cảm (Coke, Batson, & McDavis 1978; Iannotti 1979…) [47].
Cùng quan niệm với các tác giả trên còn có Stotland (1969), Krebs (1975), Kohut (1984), Kubo & Muto (1984), Batson et al (1996), Barnett (1984)… Đây cũng là hƣớng nghiên cứu hiện nay của các nhà nghiên cứu và cũng là hƣớng lựa chọn nghiên cứu của tác giả luận văn, nghiên cứu sự đồng cảm là một khái niệm đa chiều, đa thành tố bao gồm xúc cảm, tình cảm và nhận thức ảnh hƣởng lên nhau khó tách bạch. - Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến đồng cảm Trong các công trình nghiên cứu về đồng cảm nhiều tác giả lại nghiên cứu về các yếu tố ảnh hƣởng tới sự đồng cảm: Nhận thức và phản ứng tình cảm, kinh nghiệm cá nhân, độ tuổi, giới tính, môi trƣờng sống (nền văn hóa, phong tục tập quán, tôn giáo, đạo đức), mối quan hệ mẹ con…Trong một loạt 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các nghiên cứu của Rogers (1957, 1959, 1975), Davis (1980, 1983, 1994), khả năng nhận thức của cá nhân đƣợc đề cao. Điều này đƣợc lý giải vì thành phần cốt lõi của sự đồng cảm là nhận thức. Ngƣời nào có khả năng nhận thức cao sẽ dễ dàng hơn trong việc hiểu ngƣời khác.
Tuy nhiên, Hoffman (1977, 1981, 2000) cho rằng, sự đồng cảm của mỗi cá nhân không chỉ bị ảnh hƣởng bởi khả năng nhận thức mà còn phụ thuộc vào khả năng phản ứng tình cảm của cá nhân. Một ngƣời biết cách thể hiện tình cảm của mình ra bên ngoài thì chỉ số đồng cảm của họ sẽ cao hơn. Nhƣ vậy, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra đồng cảm chịu ảnh hƣởng bởi khả năng nhận thức và khả năng phản ứng tình cảm của mỗi cá nhân. Các tác giả Davis (1996), Ickes (1993), Deigh (1995), Kohut (1984), Hoffman (2000) đã nghiên cứu và chỉ ra rằng ngoài khả năng nhận thức và phản ứng tình cảm, sự đồng cảm còn phụ thuộc vào kinh nghiệm cá nhân.
Riêng tác giả Hakansson (2003) đã tìm ra những điểm chung của kinh nghiệm chủ thể đồng cảm với kinh nghiệm đồng cảm của đối tƣợng đã từng trải qua đồng cảm.Tác giả đã chứng minh đƣợc những ngƣời có kinh nghiệm đồng cảm tƣơng tự thì sẽ dễ đồng cảm với nhau hơn. Với các kết quả đó cho thấy, ƣu thế đồng cảm thuộc về những ngƣời có kinh nghiệm đồng cảm. Liệu điều này có đúng với lứa tuổi thanh thiếu niên khi mà các em ít cả tuổi đời lẫn kinh nghiệm? Một số tác giả đã xem độ tuổi của nghiệm thể nhƣ là một yếu tố cần xem xét (Bryant 1982, Laible, Carlo, Roesch 2004) trong quá trình nghiên cứu sự đồng cảm. Kết quả là mức độ đồng cảm không giống nhau ở những ngƣời có độ tuổi khác nhau.
Câu hỏi đƣợc đặt ra là độ tuổi có liên quan đến sự đồng cảm hay không? Trong các yếu tố cá nhân ảnh hƣởng đến sự đồng cảm còn có yếu tố mà hầu nhƣ các nghiên cứu đều đề cập đến là giới tính (Eisenberg &Lennon 1983, 1987; Batson 1982; Weid, Branje, Meeus 2007; Adams 1983; Gini, 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Albiero, Altoe 2007). Đặc biệt, Hoffman (1977) đã có hẳn một nghiên cứu về sự khác biệt giới tính trong đồng cảm và hành vi liên quan [41]. Trong nghiên cứu này, tác giả cho rằng phụ nữ phản ứng cảm xúc thƣờng xuyên, phổ biến hơn nam giới dù họ biểu hiện nhƣ vậy không phải để nhận đƣợc sự đồng cảm nhiều hơn; phụ nữ có xu hƣớng tƣởng tƣợng nhiều hơn còn nam giới hƣớng tới hành động cụ thể trong sự đồng cảm và các hành vi liên quan. Bên cạnh các yếu tố cá nhân, còn có các yếu tố xã hội ảnh hƣởng đến sự đồng cảm.
Đó là yếu tố môi trƣờng sống, mối liên kết xã hội nhƣ bạn bè, cha mẹ với con cái và yếu tố giáo dục. Yếu tố môi trƣờng sống có vai trò quan trọng đối với sự đồng cảm. Các nhà nghiên cứu cho rằng với những môi trƣờng sống khác nhau, sự đồng cảm đƣợc biểu hiện khác nhau (Rogers; Eisenberg et al 1996, 1987, 2000; Lennon et al 1986). Điều này cho thấy nền văn hóa, phong tục tập quán, tôn giáo, đạo đức trong xã hội đều có ảnh hƣởng nhất định đến sự đồng cảm của con ngƣời.
Tác giả Sams, Truscott (2004) đã cảnh báo rằng thanh thiếu niên thƣờng xuyên chứng kiến bạo lực, gây hấn sẽ có chỉ số đồng cảm thấp, thậm chí là có xu hƣớng thờ ơ, vô cảm với xung quanh [47]. Khi nghiên cứu về sự đồng cảm của trẻ em, Eisenberg(1996) cùng cộng sự đã tìm hiểu sự liên kết giữa mẹ và con. Bà đã chỉ ra rằng, chính sự bắt chƣớc những phản ứng xúc cảm của ngƣời mẹ giúp cho đứa con đồng cảm với ngƣời khác dễ dàng hơn [35]. Nhƣ vậy, chất lƣợng mối liên kết mẹ con tỉ lệ thuận với sự phát triển đồng cảm.
Ngoài mối quan hệ mẹ con thì mối quan hệ ngang hàng – bạn bè cùng 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tuổi ảnh hƣởng không nhỏ đến sự đồng cảm nhất là bạn bè cùng tuổi ở lứa tuổi thanh thiếu niên. Có khá nhiều tác giả nghiên cứu về sự ảnh hƣởng này nhƣ Adams (1983); Carlo, Roesch (2004); Gleason, Jensen – Campbell (2009); Caravita, Blasio, Salmivalli (2009); La Greca, Harrison (2005). Kết quả của các nghiên cứu này chỉ ra rằng, liên kết bạn bè chặt chẽ, phong phú sẽ giúp sự đồng cảm dễ dàng đƣợc hình thành. Nói cách khác sự đồng cảm đƣợc hình thành dễ dàng hơn trong liên kết bạn bè cùng tuổi.
Trong nghiên cứu của mình, tác giả Eisenberg (2002) cho rằng, sự đồng cảm của cá nhân có thể học đƣợc và điều chỉnh đƣợc [39]; Mercer &Reynolds (2002) và Tansey, Burk (1989) nghiên cứu về sự đồng cảm của sinh viên y khoa đã kết luận rằng: Sinh viên y khoa học sự đồng cảm trong trƣờng y và trong quá trình hoạt động thực tế tại bệnh viện [45]. Nhƣ vậy, nếu sự đồng cảm đƣợc giáo dục tốt ngay trong những năm tháng ngồi trên ghế nhà trƣờng thì chỉ số đồng cảm của cá nhân sẽ tăng lên. Liệu điều này có đúng với lứa tuổi thanh thiếu niên? - Nghiên cứu về ảnh hưởng của đồng cảm Sự đồng cảm của thanh thiếu niên có liên quan đến hiện tƣợng bắt nạt bạn bè – một hiện tƣợng có chiều hƣớng tăng lên trong giới thanh thiếu niên hiện nay. Đây cũng là một hƣớng nghiên cứu đƣợc nhiều nhà tâm lý lựa chọn nhƣ: S.
Gini et al (2007)… chỉ ra rằng, sự đồng cảm có ảnh hƣởng mạnh mẽ đến hành vi bắt nạt. Những thanh thiếu niên bị bắt nạt và thanh thiếu niên bắt nạt ngƣời khác đều có chỉ số đồng cảm thấp hơn so với nhóm thanh thiếu niên có hành vi trợ giúp.