CHƯƠNG I: HỆ TƯ TƯỞNG VÀ SỰ DU NHẬP CỦA PHẬT GIÁO, NHO GIÁO VÀO VIỆT NAM TRƯỚC THẾ KỶ X 1. Khái niệm hệ tư tưởng 1. Khái niệm chung về hệ tư tưởng Hệ tư tưởng là một thuật ngữ chủ yếu được sử dụng trong các lĩnh vực triết học, chính trị và xã hội. Trong các lĩnh vực này, định nghĩa về hệ tư tưởng có những nội dung tương đối thống nhất.
Ở Việt Nam, khái niệm hệ tư tưởng chủ yếu được tiếp cận theo hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin. Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, hệ tư tưởng là “hệ thống những tư tưởng và quan điểm lý luận thể hiện sự nhận thức và đánh giá hiện thực xung quanh, xuất phát từ những lợi ích xã h ội nhất định. Hệ tư tưởng mang tính lý luận, nghĩa là được hệ thống hoá một cách duy lý, khác với tâm lí xã h ội gắn liền với cảm giác sống của ý thức đời thường. Hệ tư tưởng gồm các tư tưởng và quan điểm về chính trị, kinh tế, xã hội, pháp quyền, tôn giáo, đạo đức, thẩm mĩ, triết học”1.
Trong Từ điển triết học, h ệ tư tưởng được định nghĩa là “hệ thống những quan điểm và tư tưởng: chính trị, luật pháp, đạo đức, thẩm mỹ, tôn giáo, triết học. Hệ tư tưởng là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng (Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng) và với tính cách là kiến trúc thượng tầng, xét cho cùng, ph ản ánh những quan hệ kinh tế”2. Cũng vậy, Giáo trình Triết học Mác – Lênin định nghĩa: Hệ tư tưởng là trình độ cao của ý thức xã hội, hình thành khi con người nhận thức sâu sắc hơn về những điều kiện sinh hoạt vật chất của m ình; là nh ận thức lý luận về tồn tại xã 1 Từ điển Bách khoa Toàn thư, http://dictionary.aspx?param=265AaWQ9MTI4MTMmZ3JvdXBpZD0m a2luZD0ma2V5d29yZD1oJWUxJWJiJTg3JTIwdCVjNiViMCUyMHQlYzYlYjAlZTElYmIlOWZuZw== &page=1 2 M.Rodentan, Từ điển triết học, NXB Tiến Bộ, Mát-xcơ-va, bản tiếng Việt, in tại Liên Xô năm 1986, tr. 9 hội, là hệ thống những quan điểm, tư tưởng (chính trị, triết học, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo), kết quả của sự khái quát hóa những kinh nghiệm xã hội1.
Từ các định nghĩa trên có th ể rút ra các tính chất củ a h ệ tư tưởng là: tính hệ thống, tính lý luận, tính giai cấp và tính chủ quan. Tiếp cận từ góc độ các tính chất của hệ tư tưởng, chúng tôi đi đến một định nghĩa ngắn gọn nhưng khái quát trên cơ sở những quan điểm thống nhất về hệ tư tưởng trong xã hội có giai cấp như sau: “Hệ tư tưởng là hệ thống những tư tưởng và quan điểm mang tính lý luận của một giai cấp nhất định, thể hiện trình độ phản ánh tồn tại xã hội của giai cấp đó”. Bên cạnh định nghĩa chung như vậy, tùy từng hệ tư tưởng chính trị, xã hội, tôn giáo… mà còn có các định nghĩa với đặc điểm riêng cho từng loại. Tùy theo góc độ tiếp cận m à ta có thể phân chia hệ tư tưởng thành các loại khác nhau.
Hiện nay các nhà Mácxit đã phân loại hệ tư tưởng theo hai cách: Cách thứ nhất: Dựa theo tính khoa học, th eo trình độ phản ánh tồn tại xã hội m à hệ tư tưởng được chia th ành h ệ tư tưởng khoa học và hệ tư tưởng phi khoa học. Cả hai loại hệ tư tưởng đều phản ánh tồn tại x ã hội, phản ánh mối quan hệ vật chất của xã hội, tuy nhiên mỗi loại phản ánh theo chiều hướng đối lập nhau. Hệ tư tưởng khoa học phản ánh theo chiều hướng khách quan, chính xác trong khi h ệ tư tưởng phi khoa học phản ánh một cách chủ quan, sai lầm, hư ảo hoặc xuyên tạc. Cách thứ hai: Dựa theo các hình thái ý thức x ã hội, hệ tư tưởng thường được chia thành hệ tư tưởng chính trị, đạo đức, tôn giáo và triết học.
Tùy từng tác giả m à h ệ tư tưởng được phân chia thêm các lo ại kinh tế, xã hội, thẩm mĩ, khoa học, nghệ thuật và pháp quyền. Trong các hệ tư tưởng trên thì h ệ tư tưởng chính trị - xã h ội và h ệ tư tưởng tôn giáo được xem là những hệ tư tưởng chủ yếu nhất, có tầm quan trọng nhất. Hệ tư tưởng chính trị - xã hội bao gồm vấn đề kết cấu chính trị - xã hội, vấn đề nhà nước và pháp quyền, vấn đề chiến tranh và hòa bình, v.v… H ệ tư 1 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2004), Giáo trình Triết học Mác – Lênin, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 10 tưởng chính trị - xã hội lồng v ào, xâm nhập vào và chi phối tất cả các hình thái khác của ý thức xã hội.
Thực tế, hệ tư tưởng chính trị - xã hội đ ã bao gồm cả vấn đề pháp quyền. Theo Giáo trình Chủ nghĩa Mác – Lênin, hệ tư tưởng chính trị đóng vai trò chủ đạo và tập trung nhất s o với các hệ tư tưởng khác. Dựa trên quan điểm đó, các học giả Việt Nam đ ã nhấn mạnh tầm quan trọng của hệ tư tưởng chính trị. Tác giả Trần Ngọc Vương nhấn mạnh, “điểm đặc th ù h ệ tư tưởng của một giai cấp hay một triều đại xác định thường được thể hiện tập trung nhất ở phương diện chính trị - pháp quyền, và ở thời Trung cổ nói chung, thì nét đặc thù hệ tư tưởng cũng còn được thể hiện rõ ràng ở các mô thức tôn giáo và văn hóa nữa”1.
Trong tác phẩm Học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo và ảnh hưởng của nó ở Việt Nam, TS.Nguyễn Thanh Bình đã d ẫn lại ý kiến của Trần Ngọc Vương và cũng nhấn mạnh “trong đời sống tinh thần của x ã hội, hệ tư tưởng chính trị đóng vai trò chủ đạo, xâm nhập, chi phối các hình thái ý thức xã hội v à thống nhất chúng trên cơ sở tư tưởng chung”2. Theo đó th ì hệ tư tưởng chính trị không chỉ chi phối đến các hệ tư tưởng khác m à rộng hơn, còn quy định phương hướng của các hình thái ý thức x ã hội. Tuy nhiên, Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô lại cho thấy một cách nhìn khác. Họ cho rằng, ở mỗi hình thái kinh tế xã hội, vị trí và vai trò của các hệ tư tưởng không giống nhau.
“Trong xã hội thời cổ, tư tưởng chính trị và tôn giáo đều có tác dụng chi phối như nhau, còn tri ết học và nghệ thuật cũng chiếm một địa vị rõ rệt. Đến thời kỳ xã h ội nô lệ tan rã, tôn giáo nh ảy lên hàng đầu. Trong thời kỳ phong kiến, tôn giáo trở thành hình thái tư tưởng hoàn toàn độc chiếm địa vị thống trị. Tất cả những hình thái ý th ức xã hội khác như đạo đức, khoa học nghệ thuật và triết học, trong thời kỳ phong kiến đều phụ thuộc vào tôn giáo”3.
Và 1 Trần Ngọc Vương (2001), “Cấu trúc và diễn tiến hệ tư tưởng ở Việt Nam đầu thời Lý”, in trong Kỷ yếu hội thảo khoa học Lý Công Uẩn và vương triều Lý, NXB ĐHQGHN, Hà Nội, tr.Nguyễn Thanh Bình (2007), Học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo và ảnh hưởng của nó ở Việt Nam (từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.Công-stăng-ti-nốp (chủ biên) (1951), Ý thức xã hội và các hình thái ý thức xã h ội, trích từ chương X cuốn Duy vật lịch sử, NXB Sự Thật, H. 11 “trong xã hội tư bản chủ nghĩa, hệ thống tư tưởng của giai cấp tư sản phần lớn xuất hiện bằng hình thức chính trị và hình thức pháp luật công khai”1. Chúng tôi cho rằng, sở dĩ có sự khác nhau trong quan niệm của các nhà nghiên cứu về vị trí và vai trò của các hệ tư tưởng như vậy, là do họ đứng từ những góc nhìn khác nhau để tiếp cận vấn đề. Các nh à Mácxit Liên Xô xem xét hệ tư tưởng trong một xã hội truyền thống phương Tây, trong khi đó các nhà nghiên cứu Việt Nam lại đứng trên gó c độ xã hội truyền thống phương Đông.
Thiết nghĩ, cần phải có sự nghiên cứu kỹ càng hơn về điều n ày trong một dịp sau. Hệ tư tưởng tôn giáo cũng có tầm quan trọng không kém so với hệ tư tưởng chính trị - xã hội. Hệ tư tưởng tôn giáo được định nghĩa là h ệ thống những tư tưởng, quan điểm tôn giáo tồn tại dưới dạng các học thuyết tương đối nhất quán về thế giới xung quanh, do các nhà tư tưởng tôn giáo (các nh à th ần học) xây dựng nên và truyền bá. Hệ tư tưởng tôn giáo h ình thành trong xã hội có giai cấp.
Trong thời trung cổ, nó tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, đến các học thuyết khác như đạo đức học, luật học, triết học, vv… Hệ tư tưởng tôn giáo ngày nay, dưới một hình thức hiện đại hơn, bao gồm các học thuyết triết học - tôn giáo và các lí thuyết xã h ội khác. Hệ tư tưởng Phật giáo và hệ tư tưởng Nho giáo Hệ tư tưởng Phật giáo trước hết là hệ tư tưởng tôn giáo, nhưng khi được giai cấp thống trị tiếp nhận sử dụng vào việc quản lý xã hội và đất nước, vai trò chính trị của Phật giáo mới trở nên nổi bật Phật giáo ra đời từ thế kỷ thứ VI TCN do Gautama Siddhatta sáng lập. Đạo Phật ra đời khi chế độ chiếm nô ở Ấn Độ đang hình thành. Phật giáo ngày càng phát triển mạnh và trở th ành quốc giáo của Ấn Độ trong suốt thế kỷ III TCN đến thế kỷ V.
Phật giáo thờ vị thần cao nhất là Ph ật Thích Ca (Gautama Siddhatta). Trải qua một quá trình phát triển ở Ấn Độ cũng như ở các quốc gia khác, Phật giáo đ ã tiếp thu và phát triển một hệ thống thần linh bao gồ m các vị phật, bồ tát, 1 GS.Công-stăng-ti-nốp (chủ biên), sđd, tr. 2 Từ điển Bách khoa Toàn thư, http://dictionary.aspx?param=2362aWQ9MTI4MTUmZ3JvdXBpZD0 ma2luZD0ma2V5d29yZD1oJWUxJWJiJTg3K3QlYzYlYjArdCVjNiViMCVlMSViYiU5Zm5n&page=1 12 các vị la hán… Những tín đồ của Phật giáo là một lực lượng đông đảo xuất thân từ mọi tầng lớp xã hội với tên gọi chung là ph ật tử, trong số đó có một bộ phận chuyên làm nhiệm vụ tu hành là tầng lớp Tăng già (gọi tắt là tăng). Họ đã xây dựng n ên nhiều chùa tháp để làm nơi thờ cúng và tế lễ.
Họ học hành và tụng niệm các loại giáo lý bao gồm Kinh, Luật và Luận. Như vậy, Phật giáo về bản chất chính là một tôn giáo. Hệ tư tưởng Phật giáo do vậy, trước hết là h ệ tư tưởng tôn giáo.