Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài. Chương 2: Văn hóa gia đình Việt Nam và sự biến đổi của văn hóa gia đình Việt Nam – Một số vấn đề lý luận. Chương 3: Sự biế n đổ i của văn hóa gia đin ̀ h Viê ̣t Nam hiê ̣n nay – Thực trạng và những vấn đề đặt ra. Chương 4: Những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy những biến đổi tích cực và hạn chế những biến đổi tiêu cực của văn hóa gia đình Việt Nam hiện nay.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Gia đình là một giá trị văn hóa của nhân loại, là cái nôi nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách của mỗi cá nhân. Mặc dù xã hội loài người luôn biến động nhưng gia đình vẫn có sự ổn định tương đối, là cái nôi nuôi dưỡng, giáo dục các giá trị, chuẩn mực đạo đức, văn hóa cho mỗi cá nhân. Thực tiễn lịch sử cho thấy, mặc dù nhân loại đã trải qua những biến đổi lớn và sâu sắc nhưng gia đình vẫn giữ được sự ổn định tương đối, đặc biệt là những chức năng của nó mang tính bền vững cao mà không có thiết chế xã hội nào có thể thay thế được. Thực tế đó đã khẳng định, gia đình là một giá trị bền vững, cần tiếp tục duy trì, phát huy trong xây dựng GĐVN hiện nay.
Với vị trí, vai trò quan trọng như vậy nên vấn đề gia đình đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đã có nhiều công trình khoa học bàn đến dưới những góc độ và quy mô khác nhau. Liên quan đến đề tài của luận án, có thể phân loại các công trình này thành các nhóm cơ bản sau: 1. Những công trình nghiên cứu về văn hóa gia đình Việt Nam Văn hóa gia đình Việt Nam có bề dày truyền thống hàng nghìn năm phát triển, hàm chứa nhiều giá trị, chuẩn mực văn hóa điều chỉnh các mối quan hệ trong gia đình, có thể coi nó là “hồn thiêng” của dân tộc Việt, tạo ra bản sắc, cốt cách riêng của GĐVN. Trong quá trình phát triển, VHGĐ Việt Nam chịu sự tác động và tiếp biến nhiều nền văn hóa lớn cả Đông và Tây.
Do đó, việc hệ thống hóa những nghiên cứu về VHGĐ Việt Nam có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn. Cuốn sách Thực trạng văn hóa gia đình Việt Nam (1994) [83] do nhà văn Lê Minh chủ biên. Trong công trin ̀ h này , các tác giả đã nghiên cứu thực trạng VHGĐ Việt Nam theo cách tiếp cận xã hội học. Các tác giả đã phân tích những khía cạnh khác nhau của các mối quan hệ trong gia đình và mối quan hệ giữa gia đình với các thiết chế xã hội khác.
Mặc dù điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội có nhiều biến đổi, song những truyền thống tốt đẹp của VHGĐ Việt Nam “vẫn được bảo vệ, lưu giữ và đang truyền tiếp trong các thế hệ gia đình tại các vùng miền, thể hiện ở sự đùm bọc, chăm sóc lẫn nhau giữa các thành viên gia đình, trong tình thương yêu của huyết thống dòng họ, với sự gắn bó linh thiêng giữa những người đang sống và những người đã khuất” [83, tr. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cuốn sách Xây dựng văn hóa gia đình trong sự nghiệp đổi mới (1997) [124] của Trần Hữu Tòng – Trương Thìn (đồng chủ biên). Đây là công trình tập hợp nhiều bài viết chọn lọc của nhiều nhà nghiên cứu về xây dựng nếp sống văn minh – GĐVH. Theo các tác giả, sự hình thành GĐVH không thể diễn ra bằng sự đứt đoạn với văn hóa truyền thống cũng như sự chối bỏ các giá trị văn hóa hiện đại, mà phải là sự kết hợp hài hòa và đúng đắn giữa truyền thống và hiện đại.
Trong bài văn hóa gia đình và gia đình văn hóa, PGS Tạ Văn Thành đã chỉ ra rằng, “muốn có GĐVH, phải có VHGĐ. VHGĐ phải được nghiên cứu và phổ biến cho toàn xã hội thông qua trường học, các phương tiện truyền thông đại chúng, các sách báo khoa học” [110, tr. Theo tác giả, trong xã hội truyền thống, “VHGĐ thể hiện thành gia phong (nếp nhà), thành truyền thống gia đình, dòng họ; chúng do gia quy, gia giáo, gia huấn tạo nên” [110, tr. 165], VHGĐ được biểu hiện ở một số nội dung sau: Thứ nhất, là giáo dục trong gia đình, đây là chức năng trọng yếu của gia đình, nó tạo ra phong cách sống riêng của gia đình, dòng họ.
Thứ hai, là cách ứng xử có văn hóa giữa các thành viên trong gia đình. Thứ ba, là văn hóa bảo tồn và phát triển nòi giống, tức là những tri thức, những thói quen giúp cho cha mẹ nuôi con khôn, dạy con ngoan, làm sao cho thế hệ sau ngày càng mạnh khỏe hơn, thông minh hơn. Thứ tư, là các tri thức khoa học, y học, giáo dục học, v. được ứng dụng vào việc tổ chức cuộc sống gia đình sao cho đúng, tốt, đẹp.
Thứ năm, là sự giao tiếp có văn hóa giữa gia đình với xóm giềng, bạn bè. Với cách tiếp cận này, VHGĐ được hiểu theo nghĩa rộng như văn hóa giáo dục, văn hóa ứng xử, sinh con, nuôi dạy, giáo dục con cái; ngoài mối quan hệ trong gia đình còn có các mối quan hệ giữa gia đình với cộng đồng bên ngoài gia đình. Điều đó cho thấy, mọi hoạt động của gia đình, đi cùng với hoạt động đó là các thành viên trong gia đình đều gắn liền với văn hóa, do văn hóa chi phối – đó là VHGĐ. Trong bài Xây dựng văn hóa gia đình trong văn hóa làng, PGS Đỗ Huy cho rằng, “để tránh xuống cấp trong văn hóa xã hội, văn hóa cơ sở, trước hết nên quan tâm đặc biệt đến VHGĐ, đến các quan hệ nhân tính trong gia đình” [50, tr.
Gia đình là tổ ấm đầu tiên của các mối quan hệ nhân tính, là sự hòa hợp của các dòng máu. Tập tính tình cảm của người Việt được khởi nguồn từ VHGĐ, tình yêu vợ chồng, tình cảm chung thủy, lương tâm, danh dự đều khởi nguồn từ gia đình. Văn hóa, dù là VHGĐ hay văn hóa cơ sở thì nó mang yếu tố điều hòa, điều chỉnh và 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chống suy thoái, nó giữ gìn sự ổn định, bảo vệ các quan hệ nhân tính và là động lực của sự phát triển. Vì vậy, chúng ta muốn bước vào hiện đại thì chúng ta phải chuẩn bị tốt nhất cho sự nghiệp văn hóa ở cơ sở mà hạt nhân, điểm tựa của nó là VHGĐ.
Theo PGS Đỗ Huy, “VHGĐ hôm nay đã kết hợp chặt chẽ giữa tính di truyền văn hóa các thế hệ và mang diện mạo hiện đại” [50, tr. Có thể thấy, những “cảnh báo” của tác giả đến nay vẫn mang nhiều ý nghĩa. Đạo đức, văn hóa của xã hội hiện nay đang bị mặt trái của KTTT tác động, chi phối. Trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng, không ít người đã phải thốt lên rằng, đạo đức xã hội đang bị xuống cấp, bệnh vô cảm đang có điều kiện phát triển, v.
Tuy nhiên, trước thực trạng đó, chúng ta cần đánh giá khách quan, toàn diện bởi vì những hiện tượng tiêu cực đó bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân và nhiều thành tố khác nhau, trong đó gia đình chỉ là một nguyên nhân và là một thành tố đóng góp vào thực trạng đó, do đó, sẽ là phiến diện khi đổ lỗi cho sự xuống cấp của đạo đức, văn hóa của xã hội hiện nay chỉ bắt nguồn từ gia đình và do giáo dục gia đình, song phải thừa nhận rằng, đó là nguyên nhân và thành tố cơ bản nhất. Cuốn sách Văn hóa gia đình Việt Nam (1998) [59] của GS Vũ Ngọc Khánh cũng đã phác họa những nét cơ bản về VHGĐ Việt Nam. Mặc dù vậy, tác giả đã cho rằng, công trình không trình bày vấn đề “theo kiểu suy luận, mà làm thế nào để nói có sách, mách có chứng”, nên đi sâu vào các vấn đề cụ thể trong đời sống gia đình. Theo tác giả, tâm linh là cơ sở tạo nên VHGĐ, “đây là vấn đề chủ yếu khi ta muốn nói đến VHGĐ”, v.
“VHGĐ có thể tìm hiểu qua thuần phong mỹ tục, bàn đến VHGĐ Việt Nam, thực chất là đề cập đến văn hóa truyền thống, hiểu được điều đó, thì những chuyện như ly hôn, nuôi dạy con cái chắc sẽ được quan niệm khác đi rất nhiều. Tác giả nhấn mạnh, người thời nay chỉ lấy nhau vì tình chứ người của VHGĐ Việt Nam còn lấy nhau vì “nghĩa”. Không có nghĩa có phải là một ứng xử đúng đắn và có văn hóa không? Tất nhiên, chỉ biết có “nghĩa”, không chấp nhận tình yêu, thì lại là một tội ác. Có VHGĐ, là có cách xử sự sao cho hòa hợp cả hai vấn đề ấy” [59, tr.
Như vậy, theo GS Vũ Ngọc Khánh, nghĩa và lễ là hai vấn đề quan trọng nhất trong VHGĐ, đó là nghĩa vợ chồng, ông bà và con cháu, nghĩa anh em họ hàng và lễ là cúng bái thờ phụng, tôn ti trật tự, là thực hiện đạo hiếu, kính trọng ông bà, tổ tiên. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong cuốn Handbook of family diversity (Cẩm nang về sự đa dạng gia đình) (2000) [145] của David H. Allen và Mark A. Cuốn sách đề cập đến nhiều chiều cạnh của sự đa dạng gia đình như sự đa dạng về cấu trúc, chủng tộc, đạo đức và văn hóa của gia đình; sự đa dạng thành phần, giai cấp trong gia đình, v.
Theo các tác giả, gia đình vào đầu thế kỷ XXI phải “chia sẻ chung bối cảnh nền tảng của những căng thẳng lớn về kinh tế và xã hội” [145, tr. 2], do đó, sẽ không có một hình thức gia đình được đánh giá bên ngoài bối cảnh kinh tế - xã hội đặc biệt của nó và các mối quan hệ của nó với các gia đình khác. Gia đình “luôn dễ đổ vỡ, dễ bị tổn thương với biến đổi kinh tế nhanh chóng, và sự cần thiết hỗ trợ về kinh tế và tình cảm từ bên ngoài gia đình hạt nhân” [145, tr. Các tác giả cũng đã chỉ ra rằng, cổ vũ cho tính đa dạng của gia đình chỉ đúng khi “chúng ta phân tích các điều kiện xã hội đang thay đổi đã ảnh hưởng đến gia đình và tìm ra cách làm thế nào để giúp mỗi gia đình tận dụng được các nguồn lực tiềm tàng của nó và giảm thiểu sự dễ tổn thương đặc trưng của nó” [145, tr.