Chương 1: Giới thiệu. Chương 2: Tổng quan về các kết quả nghiên cứu trước đây tạo tiền đề cho bài nghiên cứu. Chương 3: Mẫu dữ liệu, phương pháp nghiên cứu và mô hình kinh tế lượng được sử dụng. Chương 4: kết quả thực nghiệm từ các mô hình.
Chương 5: Kết luận, đưa ra các đề xuất và hướng nghiên cứu tiếp theo. LUAN VAN CHAT LUONG download 5 : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 2 - TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY 2.1 Chính sách tiền tệ, cơ chế truyền dẫn lãi suất của chính sách tiền tệ đến nền kinh tế: 2.1 Chính sách tiền tệ : F. Miskin đã đưa ra quan điểm về CSTT theo nghĩa rộng: “CSTT là một trong các chính sách vĩ mô, trong đó ngân hàng Trung ương thông qua các công cụ của mình thực hiện việc kiểm soát và điều tiết khối lượng tiền cung ứng nhằm tác động tới các mục tiêu cơ bản của nền kinh tế, trên cơ sở đó đạt được những mục tiêu cuối cùng của mình là công ăn việc làm cao, tăng trưởng kinh tế, ổn định giá cả, ổn định lãi suất, ổn định TTTC và ổn định tỷ giá hối đoái”. CSTT có thể được xác định theo một trong hai hướng sau: - CSTT mở rộng là việc cung ứng thêm tiền cho nền kinh tế, nhằm khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất, tạo công ăn việc làm, mục tiêu là chống suy thoái.
- CSTT thắt chặt là việc giảm cung ứng tiền cho nền kinh tế, nhằm hạn chế đầu tư, kìm hãm sự phát triển quá nóng của nền kinh tế, mục tiêu là kiềm chế lạm phát. Tóm lại, mục tiêu cuối cùng của NHTW là điều hành CSTT sao cho ổn định tiền tệ, thúc đẩy nền kinh tế phát triển, cụ thể là cân đối giữa khối lượng tiền với mức tăng tổng sản phẩm quốc dân, giữa cung và cầu tiền tệ, giữa hàng và tiền sao cho không thừa hoặc thiếu so với nhu cầu lưu thông. Tuy nhiên, điều này có vẻ thực hiện hiệu quả ở những nước mà NHTW độc lập với chính phủ. Lúc này, NHTW chỉ tập trung vào mục tiêu ổn định tiền tệ dựa trên những yếu tố khách quan của thị trường, không bị tác động từ kết quả từ việc sử dụng chính sách tài khóa của chính phủ.
Hiện ở Việt Nam, NHTW vẫn chịu sự kiểm soát của chính phủ. Chính vì vậy, các quyết định của chính sách tiền tệ đôi khi không hoàn toàn vì mục tiêu cuối cùng LUAN VAN CHAT LUONG download 6 : add luanvanchat@agmail.com là ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát. Chính sách tiền tệ thiếu minh bạch, do đó mức độ tác động vào nền kinh tế thông qua các công cụ cũng kém hiệu quả hơn.2 Cơ chế truyền tải tác động của CSTT đến nền kinh tế qua kênh lãi suất: CSTT tác động đến nền kinh tế qua các kênh: kênh lãi suất, kênh tỷ giá hối đoái, kênh giá cả tài sản, kênh tín dụng ngân hàng. Kênh lãi suất là kênh cơ bản, được đề cập nhiều nhất.
Khi NHTW quyết định mở rộng chính sách tiền tệ sẽ làm cho cung tiền tăng lên và do đó sẽ làm giảm mặt bằng lãi suất xuống (giả sử cầu tiền không đổi). Lãi suất giảm sẽ làm tăng nhu cầu chi tiêu (C), nhu cầu đầu tư (I) và kể cả xuất khẩu ròng (NX) của nền kinh tế. C, I, và NX tăng lên sẽ làm tăng tổng cầu của nền kinh tế. Khi NHTW mở rộng chính sách tiền tệ, đường tổng cầu AD dịch chuyển sang phải, làm tăng GDP thực và mức giá chung.
Ngược lại, khi NHTW thắt chặt chính sách tiền tệ sẽ làm cho cung tiền giảm, từ đó làm cho lãi suất cân bằng tăng lên. Lãi suất tăng sẽ làm giảm chi tiêu dùng (C), đầu tư (I) và xuất khẩu ròng (NX), và do vậy làm giảm tổng cầu (AD). Tổng cầu giảm sẽ làm giảm GDP thực và mức giá chung. Tác động cụ thể của điều chỉnh lãi suất đến nền kinh tế như sau: + Tác động tới chi tiêu: Sự thay đổi lãi suất của NHTW tác động đến cầu thực và sản lượng thực của nền kinh tế.
Trong ngắn hạn, lãi suất danh nghĩa thay đổi dẫn đến lãi suất thực thay đổi, kỳ vọng lạm phát lúc này chưa kịp thay đổi theo, qua đó sẽ tác động đến sản lượng và giá cả. + Tác động đến thu nhập: Lãi suất tăng hơn sẽ phân phối lại thu nhập từ người vay tiền sang người gửi tiền. Khi lãi suất tăng, người đi vay sẽ chịu thêm chi phí, người gửi tiền sẽ tăng thêm thu nhập từ tiền gửi và ngược lại. Kênh truyền dẫn lãi suất theo quan điểm Keynes: LUAN VAN CHAT LUONG download 7 : add luanvanchat@agmail.com Cơ chế truyền dẫn qua kênh lãi suất là cơ chế truyền dẫn tiền tệ quan trọng trong mô hình IS – LM của trường phái Keynes.
Quan điểm của Keynes được thể hiện thông qua sơ đồ truyền dẫn sau: M↑⇒i↓⇒I↑⇒Y↑ Theo Keynes, khi NHTW nới lỏng chính sách tiền tệ, khối lượng tiền M tăng, lãi suất thực i giảm dẫn đến giảm chi phí vốn vay. Điều này thúc đẩy các cá nhân, doanh nghiệp tăng chi tiêu cho đầu tư, vì vậy tổng cầu tăng và cuối cùng sản lượng Y tăng. Điều quan trọng trong quan điểm của Keynes là tập trung vào lãi suất thực hơn là lãi suất danh nghĩa. Vì lãi suất thực mới thật sự tác động đến tiêu dùng.
Vậy giải thích chi tiết truyền dẫn từ M↑⇒i↓ Keynes đã cụ thể bằng sơ đồ sau: M↑⇒Pe↑⇒pe↑⇒i↓ Khi cung tiền tệ tăng sẽ tác động đến giá cả dự kiến tăng, khiến lạm phát dự kiến tăng theo, cuối cùng làm lãi suất thực giảm. Vì vậy, ngay cả khi lãi suất danh nghĩa bị đẩy xuống 0% thì chính sách tiền tệ vẫn có thể hoạt động hiệu quả. Tuy nhiên, hiệu quả đến đâu còn tùy thuộc vào đặc điểm tổ chức thị trường tài chính và mức độ trông đợi của thị trường. Quan điểm trên chỉ nghiên cứu trên cơ sở truyền dẫn lãi suất là tức thời và hoàn toàn.
Trên thực tế, truyền dẫn là không hoàn toàn và luôn có độ trễ. Quy tắc Taylor : Quy tắc Taylor (tiếng Anh: Taylor rule) là quy tắc của chính sách tiền tệ quy định ngân hàng trung ương nên thay đổi lãi suất danh nghĩa ra sao để đáp ứng các thay đổi của lạm phát, GDP hoặc các điều kiện kinh tế khác. Theo đó, quy tắc nói rằng nếu lạm phát tăng thêm 1% thì ngân hàng trung ương nên tăng lãi suất danh nghĩa thêm hơn 1%. Quy tắc lần đầu tiên được đưa ra bởi nhà kinh tế học Mỹ John B.
(Judd and Rudebusch, 1998) LUAN VAN CHAT LUONG download 8 : add luanvanchat@agmail.com Quy tắc Taylor sẽ giúp cho một NHTW xác định được các tỷ lệ lãi suất trong ngắn hạn khi các điều kiện kinh tế thay đổi nhằm đạt hai mục tiêu là ổn đinh kinh tế trong ngắn hạn và kiểm soát lam phát trong dài hạn. Q uy tắc được mô tả theo phương trình sau: it = πt + r*t + απ(πt – π*t) + αy(yt – y^t) Trong đó it là lãi suất danh nghĩa ngắn hạn mà ngân hàng trung ương sẽ hướng tới, πt là tỷ lệ lạm phát thực tế, π*t là tỷ lệ lạm phát mà ngân hàng trung ương mong muốn, r*t là lãi suất thực tế cân bằng, yt là logarit của GDP thực tế và y^t là Logarit của GDP tiềm năng, được xác định bằng xu hướng tuyến tính. Tuy nhiên, vận dụng quy tắc Taylor cũng có những nhược điểm nhất định. Thứ nhất, trong một số trường hợp, lạm phát vượt lạm phát mục tiêu trong khi sản lượng lại dưới mức sản lượng tiềm năng.
Lúc này, Quy tắc Taylor cung cấp chỉ dẫn cho các nhà hoạch định chính sách cân bằng các mục tiêu qua việc thiết lập một mức lãi suất trung hòa phù hợp. Điều khó khăn ở đây là mức lãi suất này không dễ xác định về mặc dữ liệu và mô hình, đặc biệt nó còn phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế. Nếu xác định không chính xác sẽ khiến tình trạng các mục tiêu chính sách tiền tệ mâu thuẫn kéo dài hơn. Thứ hai, khi vận dụng quy tắc Taylor, hiệu quả các chính sách chỉ cao khi không có độ trễ xảy ra hoặc xác định được độ trễ lúc thực thi quyết sách.
Bên cạnh đó, độ trễ thời gian tác động của các chính sách phụ thuộc nhiều vào các yếu tố tiền tệ như: lãi suất, cung tiền, tỷ giá…., các yếu tố vĩ mô như: đầu tư, lạm phát. Tóm lại, nền tảng lý thuyết của Taylor là đúng đắn, giúp định hướng cho các quyết định của NHTW trong việc điều hành chính sách tiền tệ hiệu quả, đặc biệt là thông qua kênh truyền dẫn lãi suất. Tuy nhiên, việc đưa nó vào thực tế, xác định được mức lãi suất cụ thể tác động vào nền kinh tế thì vẫn còn nhiều thử thách. Đối với nền kinh tế thị trường chưa phát triển như Việt Nam thì việc vận dụng nền tảng lý thuyết trên cần có sự linh hoạt, bám sát mục tiêu định LUAN VAN CHAT LUONG download 9 : add luanvanchat@agmail.com hướng phát triển kinh tế-xã hội cũng như các diễn biến thực tế của thị trường nhằm đem lại sự hiệu quả trong điều hành chính sách tiền tệ, góp phần ổn định kinh tế, phát triển đất nước.2 Tổng hợp các nghiên cứu trƣớc đây: 2.1 Sự truyền dẫn là không hoàn toàn: Đa phần các nghiên cứu đều thừa nhận truyền dẫn lãi suất là chậm chạp và không hoàn toàn.
Dominik Bernhofer & Tillvan Treeck (2013) đã đưa ra thêm bằng chứng về sự không đồng nhất trong truyền dẫn lãi suất của các nước trong khu vực đồng Euro. Sau khi ước lượng mô hình với 7 loại lãi suất & 10 quốc gia trong khu đồng Euro từ năm 1999-2009, kết quả đưa ra là có sự không đồng nhất trong truyền dẫn lãi suất, đáng kể là trong ngắn hạn giữa các quốc gia trước và cả sau khi sáng lập Liên Minh tiền tệ Châu Âu. Các nghiên cứu đa phần nhận thấy sự truyền dẫn là không đầy đủ và điều chỉnh tốc độ cũng khác nhau giữa các tổ chức tài chính và các sản phẩm tài chính, nghĩa là tốc độ truyền tải tiền tệ có thể khác nhau giữa các phân đoạn khác nhau của ngành ngân hàng (xem Cottarelli và Kourelis, 1994; Hofmann và Mizen, 2004) Tại Malaysia, Muhamed Zulkhibri (2012) đã xem xét mức độ truyền dẫn từ lãi suất thị trường đến lãi suất huy động và cho vay của các ngân hàng thương mại. Bài nghiên cứu xem xét mức độ truyền dẫn ngắn hạn và dài hạn, đồng thời phân tích hành vi bất đối xứng của các tổ chức tài chính theo chế độ tiền tệ khác nhau.
Kết quả cho thấy truyền dẫn cả tiền gửi và lãi suất cho vay là không đầy đủ.