đặt vấn đề là tại sao một số ngƣời mắc bệnh khác nhau lại có những triệu chứng giống nhau. Nhiều tác giả đã mô tả các triệu chứng loét dạ dày và ruột ở ngƣời bị bỏng ngoài da (Svon,1823; Kerling, 1842) hoặc những ngƣời bị bệnh sau phẫu thuật lớn bị nhiễm trùng (Billrot). Viện Pastuer Rom và viện Yersen đã mô tả tuyến thƣợng thận của chuột lang bị tăng trƣởng và xuất huyết khi bị nhiễm bạch cầu. Stress cũng là một trong những nguyên nhân chính gây nên các bệnh tim mạch, cao huyết áp, đột quỵ, xơ vữa động mạch…Giáo sƣ Meyer Friedman và giáo sƣ Ray Rosenman trong cuốn “Typ A Behaviour and your heart” chỉ ra với các yếu tố khác, stress là nguyên nhân dẫn đến xơ vữa động mạch.
15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hans Selye năm 1936, ông đã chiết dịch tiết của buồng trứng động vật có sừng một loại hormone và đem tiêm nó cho chuột. Sau khi tiêm một thời gian, chuột có những biểu hiện nhƣ: - Vỏ tuyến thƣợng thận tăng trƣởng mạnh và chứa một lƣợng không lớn các hạt lipid bài tiết. - Tuyến ức, các hạch lympho và cấu trúc chứa lympho bị teo nhỏ lại - Thành dạ dày, tá tràng ruột của chuột bị loét và chảy máu. Những thí nghiệm khác đã cho thấy các chất chiết từ tuyến thƣợng thận, tuyến tụy và một số chất độc cũng có thể gây ra biến đổi tƣơng tự.
Lúc đầu, những biến đổi này đƣợc gọi là “triệu chứng đƣợc gây ra bởi các tác nhân khác nhau”. Về sau đƣợc thay đổi thành “triệu chứng thích nghi chung” hay còn gọi là “Triệu chứng stress sinh học”. Ba biến đổi trên trở thành ba chỉ số quan trọng của stress và cơ sở để phát triển một khái niệm đầy đủ về stress. Nghiên cứu stress trên góc độ tâm lý học Từ xa xƣa ngƣời ta đã cho rằng tâm lí có một vai trò nhất định trong sự xuất hiện và phát triển bệnh.
Tuy nhiên mãi đến giữa thế kỉ XX, những tƣ tƣởng này mới đƣợc phát triển mạnh mẽ. Khởi đầu cho hƣớng mới này chính là S. Ông cho rằng các rối loạn cơ thể chỉ là sự thể hiện biểu trƣng (Symbol) của những xung đột nội tâm bị đè nén, ức chế.Freud (1910) đã cự tuyệt việc tuyệt đối hoá vai trò ƣu thế của tâm lí đối với cơ thể song điều này đã không ngăn cản đƣợc nhiều tác giả khác lí giải bệnh cơ thể theo Phân tâm. Họ cho rằng cũng nhƣ rối loạn tâm căn, tất cả các triệu chứng cơ thể chỉ là phƣơng thức dung hoà để giải toả năng lƣợng Libido.
Các dạng co giật của vận động cơ thể chỉ là sự né tránh căng thẳng của tính dục; các bệnh đƣờng hô hấp là sự thể hiện quay trở lại thời kì nằm trong bụng mẹ, khi mà hệ hô hấp chƣa hoạt động. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trên cơ sở lí thuyết phân tâm, Alexander (1950) cho rằng các yếu tố tâm lí và cụ thể là sự xung đột tâm lí đóng vai trò quan trọng trong 7 bệnh thực thể: loét dạ dày – tá tràng; viêm đại tràng; viêm ruột non cục bộ; cao huyết áp vô căn; viêm khớp dạng thấp và hen phế quản. Luận điểm về cơ chế bệnh tâm-thể của Alexander đƣợc nhiều ngƣời chú ý. Dunbar (1954) cho rằng: những ngƣời cùng bị một loại bệnh thƣờng có cùng một kiểu (profile) nhân cách.
Theo bà, có 8 loại bệnh phụ thuộc nhiều vào yếu tố nhân cách hơn so với các bệnh khác, ví dụ nhƣ viêm khớp dạng thấp, tiểu đƣờng, huyết áp cao, loạn nhịp tim. Cho đến nay vẫn có nhiều nghiên cứu sử dụng tƣ tƣởng của Dunbar về kiểu nhân cách làm cơ sở. Quan niệm hiện hành về kiểu nhân cách A và B là một ví dụ. Engel (1954) đã phát triển chi tiết khái niệm căn nguyên đa yếu tố.
Đến năm 1977 ông thiết lập mô hình tâm – sinh – xã hội (biopsychosocial) của bệnh. Theo quan điểm này, việc tìm kiếm và giải thích nguyên nhân của bệnh không nên thuần túy theo một yếu tố nào mà là sự kết hợp của các yếu tố về cơ thể, tâm lí và xã hội. Ximonov (1964,1970,1972,1975) với học thuyết “Phản ánh” đã kết luận rằng “Cảm xúc là do sự tác động qua lại giữa nhu cầu và khả năng đạt mục tiêu”. Theo ông, ông một cảm xúc tiêu cực nảy sinh nhƣ là kết quả của sự thiếu hụt thông tin thực tiễn cho hành động thích nghi và hành động thỏa mãn.
Nhƣ vậy việc giải quyết stress cảm xúc qua thuật ngữ của ông là kết quả của thông tin đáng tin cậy về hành động dựa trên thông tin đó. Đây là lý thuyết thông tin về cảm xúc, đã chỉ ra nguyên nhân quan trọng gây stress là sự thiếu hụt thông tin, vì thế có thể làm giảm stress cho con ngƣời nói chung. Thập kỷ 70 của thế kỷ XX, trong tác phẩm nổi tiếng “Cú sốc tƣơng lai” nhà tƣơng lai học Hoa Kỳ Alvin Toffler đã khẳng định: Trong xã hội 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hiện đại tác động của sự thay đổi dẫn đến cá nhân bị kích thích quá độ, giác quan bị tấn công do lƣợng kích thích quá tải dẫn đến stress là cú sốc tƣơng lai-chiều tâm lý [12, tr. Đây chính là lời cảnh báo của tác giả với loài ngƣời về mặt trái của xã hội văn minh.
Đặc biệt là nền văn minh hiện nay, mà Alvin Toffler gọi là làn sóng thứ 3 - văn minh sinh học và tin học, kế thừa văn minh công nghiệp. Tác giả cũng có nhiều tiên đoán khác về tƣơng lai - việc thích ứng với những phát kiến nhảy vọt của khoa học kĩ thuật công nghệ của con ngƣời gặp nhiều khó khăn. Với tác phẩm “Quẳng gánh lo đi mà vui sống” [22] tác giả Dale Carnegie đã nêu lên 30 phƣơng pháp quan trọng để đƣơng đầu với stress - hiện tƣợng phổ biến trong xã hội văn minh. Dƣới góc độ Tâm lí học, stress tâm lí là một trạng thái đặc biệt của cảm xúc.
Trong trƣờng hợp stress kéo dài, cƣờng độ thấp, nó có thể đƣợc xem nhƣ là một trong những biểu hiện của tâm trạng. Ngƣợc lại, nếu stress diễn ra đột ngột, trong một khoảng thời gian ngắn thì nó lại là sự thể hiện của xúc động. Các hiện tƣợng tâm lí vốn không tách rời nhau, trong đó trạng thái tâm lí luôn làm nền cho các quá trình tâm lí. Do vậy, những quá trình tâm lí diễn ra trên nền của stress đều chịu sự chi phối của stress.
Ở mức độ tối ƣu, stress đảm bảo cho các quá trình tâm lí, đặc biệt là các quá trình nhận thức đạt đƣợc hiệu quả cao. Ngƣợc lại, trong trạng thái mệt mỏi suy kiệt, hiệu quả của các quá trình tâm lí không những bị giảm sút mà toàn bộ nhân cách cũng bị ảnh hƣởng. Những kết quả nghiên cứu trên cho thấy stress là một hiện tƣợng phổ biến trong cuộc sống của con ngƣời nói chung và giáo viên mầm non nói riêng.1 Những nghiên cứu stress trong nƣớc Ở Việt Nam chịu ảnh hƣởng sâu sắc bởi văn hóa và tƣ tƣởng phƣơng Đông việc dƣỡng sinh bảo vệ sức khỏe thuận theo tự nhiên. Thế kỷ XIII- 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com XIV trong tác phẩm bất hủ “Nam dƣợc thần hiệu” đã khẳng định “thất tình” là nguyên nhân bên trong của mọi bệnh, những cảm xúc quá mức của nội tâm đã làm loạn huyết rối khí, tạo điều kiện để 6 tác nhân bên ngoài trời đất “lục dâm” đột nhập vào cơ thể gây bệnh (Lục dâm: Phòng, hàn, thử, thấp, tác hỏa, nắng ẩm, khô hanh nóng).
Từ thế kỷ XVIII nhà y học kiệt xuất Hải Thƣợng Lãn Ông- Lê Hữu Trác đã có những khuyên răn: Có thân mà không biết giữ gìn, chỉ lo thỏa mãn dục vọng là trái với phép dƣỡng sinh. Ăn uống là lấy vị bồi bổ chỗ thiếu, làm việc nghỉ ngơi phải có chừng mực, ăn uống quá mức thì trƣờng vị tổn thƣơng. “… Nhàn cƣ ủ rũ tinh thần Nằm nhiều khí huyết khó phần lƣu thông” Đồng thời ông cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của yếu tố tâm lý đối với sức khỏe con ngƣời: “Nội thƣơng bệnh chứng phát sinh Nguyên do cũng chỉ thất tình gây ra.” Vào những năm 60 của thế kỷ XX một số nhà khoa học thuộc lĩnh vực y học, quân sự, sinh lý học cũng quan tâm đến stress. Tác giả Tô Nhƣ Khuê và cộng sự, từ năm 1967 đến năm 1975, đã tiến hành các công trình nghiên cứu về căng thẳng cảm xúc của các chiến sỹ thuộc binh chủng đặc công trong quân đội.
Sau năm 1975 ông tiếp tục nghiên cứu về stress trên nhiều lĩnh vực để đóng góp cho công cuộc xây dựng đất nƣớc và con ngƣời. Tác giả Phạm Ngọc Rao, Nguyễn Hữu Nghiêm với tác phẩm “Stress trong thời đại văn minh” NXB Đà Nẵng - 1986 [2] đã cảnh báo về căn bệnh stress và những hậu quả khó lƣờng của nó đối với cuộc sống. Con ngƣời có 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thể ứng phó hiệu quả với stress bằng cách điều chỉnh lối sống và tập luyện các phƣơng pháp giải tỏa stress. Đặc biệt trong lĩnh vực y học, hai bác sỹ Nguyễn Khắc Viện và Đặng Phƣơng Kiệt đã dành rất nhiều tâm huyết cho các công trình nghiên cứu về stress ở trẻ em.
Các nghiên cứu của hai ông đã góp phần không nhỏ làm sáng tỏ và phong phú thêm những tri thức lý luận về stress. Bên cạnh những nghiên cứu về tress trong lĩnh vực y học, quân sự, nhiều tác giả đã đi sâu khám phá mảng stress nghề nghiệp. Stress trong việc làm là vấn đề mà hầu hết mọi ngƣời đều vƣớng mắc không nhiều thì ít. Hiện chƣa có những số liệu thống kê chính thức đƣợc công bố về tình trạng stress ở Việt Nam.
Tuy nhiên, một cuộc khảo sát do Công ty Hoffmann-La Roche tiến hành nhằm đánh giá tình trạng stress ở Việt Nam vào năm 2002 cho thấy, tỷ lệ bình quân ngƣời bị stress trong cả nƣớc là… 52%! Riêng ở Hà Nội và TP.HCM, tỷ lệ ngƣời bị stress lần lƣợt là 55% và 52%. Chính vì thế đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về stress nghề nghiệp trong thời gian gần đây. Luận án tiến sỹ tâm lý học của tác giả Nguyễn Thành Khải (2001) nghiên cứu về “Stress ở cán bộ quản lý”. Kết quả cho thấy stress ở cán bộ quản lý có nhiểu biểu hiện với nhiều mức độ khác nhau.
Kết quả cũng chỉ ra nguyên nhân bị stress và đề xuất một số biện pháp phòng ngừa và giảm stress tiêu cực nâng cao đời sống tinh thần và hiệu quả lao động cho cán bộ quản lý.