Chương 1 Cơ sở lý luận về Stress và stress trong công việc 1.Tổng quan lịch sử nghiên cứu về Stress và Stress trong công việc 1. Những quan niệm, nghiên cứu về Stress và stress trong công việc trên thế giới Khi nhắc đến thuật ngữ “stress” chúng ta thường suy đoán đến cá nhân đó đang ở trạng thái tâm lý, thể chất có vấn đề như: cú sốc về tình cảm, áp lực của công việc quá sức thích ứng của bản thân, hạ đường huyết, tổn thương đặc biệt nào đó trên cơ thể…ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất và tâm lý của bản thân và nặng hơn nữa sẽ dẫn đến những sang chấn, bệnh tật cơ thể cần có sự can thiệp của y học 1. Những nghiên cứu về Stress ở Phương Đông *Quan niệm về con người Từ xưa người phương đông có quan niệm “con người là một tiểu vũ trụ” đó là hình ảnh của không gian, thời gian, của đất, của trời, cũng như mọi sinh vật khác con người đều có những biến đổi cùng với những biến đổi của nhịp điệu vũ trụ, của môi trường và mọi sự tác động của môi trường, của vũ trụ đều dẫn đến sự biến đổi nhịp sống của con người từ đó ảnh hưởng đến đời sống tâm lý, tâm linh của con người và ngược lại. Do vậy tâm - sinh lý con người có quan hệ chặt chẽ và mật thiết với thiên nhiên, môi trường, những tác động và cách thức tổ chức sinh hoạt của con người.
Từ khi thuật ngữ Stress chưa xuất hiện, con người chưa hiểu bản chất của Stress và cơ chế của nó nhưng người phương đông đã đề cập đến những vấn đề sức khỏe, tinh thần, sức khỏe thể chất của con người, những yếu tố ảnh hưởng tạo nên những biến đổi nhịp điệu sinh học và dẫn đến sự mất cân bằng âm dương biểu hiện ra tật bệnh ở con người. Stress (căng thẳng) là một trong những loại bệnh đó. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com *Quan niệm về nhịp sinh học: Quan niệm của đông y: Mười hai kinh thuộc 6 hành có nhịp sinh học vận chuyển theo giờ trong ngày do đó có những bệnh xuất hiện theo mùa như bệnh hen suyễn hay xảy ra vào mùa thu - đông, bệnh dịch như thủy đậu thường xảy ra vào mùa hạ, nhức răng xuất hiện về đêm,… Quan niệm về những hiện tượng sinh hóa, sinh vật, vật lý trong cơ thể luôn biến chuyển theo nhịp sinh học, hoạt động của cơ thể ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố đặc biệt là những biến chuyển của vũ trụ, điều kiện, môi trường sống,…Ở mỗi cá nhân có nhịp sinh học của mình có quan hệ mật thiết với nhịp điệu của môi trường tim, huyết áp, tốc độ máu lưu thông cũng tăng về buổi chiều và ngay trong 24h hoạt tính của bạch cầu cũng thay đổi Ngay từ xưa Đông phương đã sớm phát hiện có nhịp tuần hoàn của khí trong ngày, khí trong cơ thể cũng thay đổi theo mùa trong năm cho nên người ta cần phải biết đến quy luật để nhân thiên thời mà điều hòa khí huyết, bồi bổ sức khỏe, biết cương, biết nhu, biết tiến, biết thoái đúng đạo trời - đất mà tương sinh, tương hòa để trường tồn…. Nghiên cứu về Stress ở phương tây Một số tác giả nghiên cứu về Stress Đầu thế kỷ XX, Walter Cannon (1929) đã đưa ra khái niệm “homeostasis” và khái niệm “đối đầu hay bỏ chạy” (fight or flight).
Trong phản ứng này, con người trải qua kinh nghiệm một loạt kích thích từ thế giới xung quanh gồm một chuỗi tự động những thay đổi sinh lý phức tạp nhằm chuẩn bị cho cơ thể đối đầu hay bỏ chạy trước những đe dọa của ngoại cảnh. Con người nhanh chóng nắm được bản chất của kích thích và những hành động bỏ chạy hay đối đầu với kích thích, thậm chí nếu không có hành động nào xảy ra có thể giữ nguyên trong trạng thái thức tỉnh một khoảng thời gian kèm theo là sự cảm nghiệm kích thích hàng loạt phản ứng ở vị trí đầu tiên. Homeostasis là khuynh hướng của cơ thể trở về trạng thái 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sinh lý trước khi xảy ra stress (thở, nhịp tim. Nghiên cứu của ông, đặc biệt khái niệm “fight or flight” đã thúc đẩy nhiều nghiên cứu sau này.
Năm 1936, Hans Selye (Canada) đã mở rộng nghiên cứu của Cannon. Ông mô tả stress theo thuật ngữ “Hội chứng thích nghi chung” (GAS: General Adaptation Syndrome) qua ba giai đoạn: Những cơ quan đối đầu với tác nhân gây stress sẽ lập tức đi vào trạng thái báo động qua một chuỗi những thay đổi sinh học phức tạp diễn ra như tăng nhịp tim, thở nhanh và những triệu chứng khác. Giai đoạn hai là kháng cự - cơ quan giữ được sự thức tỉnh trong khi cơ thể hoạt động để chống lại và thích ứng kích thích đó, những tác nhân gây stress tiếp tục làm dịu đi thời gian căng thẳng, cơ quan sẽ tiến vào giai đoạn ba, gọi là kiệt sức. Thời kì này, cơ quan làm giảm bớt sự nghiêm trọng và bắt đầu cảm nghiệm sự thay đổi của việc suy yếu hay ảnh hưởng của stress kéo dài như bệnh tim, huyết áp cao.
Nếu stress chấm dứt, giai đoạn ba sẽ dẫn đến sự chết đi của cơ quan nào đó. Nghiên cứu của Selye giúp chúng ta hiểu tác động ngắn hạn của những sự kiện gây stress và những ảnh hưởng của stress đồng bộ [44; tr. Selye đã đóng góp ba thuật ngữ quan trọng là: eustress (stress tích cực), neustress (stress trung tính) và dystress (stress có hại). Năm 1970, ông phân bốn loại: Eustress (stress hữu ích), dystress (stress có hại), hyperstress (overstress: stress quá mức), and hypostress (understress: stress dưới mức).
Theo Selye, không phải tất cả các loại stress đều xấu, nhưng thường khi nói về stress, đó là nói đến dystress [44; tr.Selye đã có hơn 1500 công bố khoa học, và 30 cuốn sách chuyên khảo, quan điểm của ông đã trở thành hệ thống luận điểm cơ bản, nền móng cho những nghiên cứu khoa học về stress nói riêng và y học nói chung. Công trình của ông còn được tiếp tục tại Đại học Selye-Toffler để xem xét những vấn đề thách thức của xã hội hiện đại là căng thẳng thần kinh và thể xác, sự thay đổi và tương lai 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Để tưởng nhớ và tiếp tục công trình của ông, kể từ hội nghị quốc tế tại Montreux (1988) đến nay đã có gần 20 hội nghị về stress được tổ chức, hội nghị tập hợp nhiều nhà nghiên cứu hàng đầu trên thế giới nhằm loại bỏ đi những rào cản về sự tiến bộ và phương pháp nghiên cứu stress, đồng thời trao “giải thưởng Hans Selye” cho những người có nhiều đóng góp nghiên cứu. Mỗi hội nghị được các nhà nghiên cứu trình bày về nhiều vấn đề khác nhau như: Ảnh hưởng của stress và cảm xúc đến sức khỏe (Charles Spielberger); Nghiên cứu stress trong bối cảnh thế giới thứ ba (Nicola Malan); Tự nhận thức và sức khỏe – Tầm quan trọng của thái độ về sức khỏe và bệnh tật (Daniel Goleman). Năm 2004, Marcel Dekker, Inc., đã xuất bản tập tài liệu “Bioelectromagntic Medicine” gồm 50 chương.
Tài liệu đã cung cấp những báo cáo qua nhiều hội nghị quốc tế về stress được nghiên cứu ở Đông Âu, Nga và các nước phương Đông Gần đây, qua kinh nghiệm điều trị, bác sĩ Petre D’Adamo-Caterine Whitney nhận thấy có mối quan hệ giữa nhóm máu và stress, theo ông những người nhóm máu A và B thường rất dễ bị stress kể cả khi có những nhân tố nhỏ nhất và thường có hàm lượng cortisol trong máu cao, ngược lại những người nhóm máu O và AB khi bị stress hàm lượng cortisol và adrenalin rất thấp [tr. Nhìn chung, hiện nay, stress đã và đang được hầu hết các nhà khoa học ở các nước nghiên cứu dưới cả hai góc độ lý thuyết và thực nghiệm. Nó không chỉ đơn thuần nghiên cứu chuyên về y học, sinh học, nhưng đã trở thành khoa học nghiên cứu liên ngành: y, sinh học, tâm lý, xã hội,. Những kết quả nghiên cứu đã góp phần không nhỏ cho việc giảm bớt stress và hậu quả của nó gây ra.
Các phản ứng hoặc tình trạng stress có những biểu hiện rõ nhất trên bình diện sinh lý học, và gần đây người ta bắt đầu nghiên cứu nó trên bình diện tâm lý. Những khái niệm “các biến cố quan trọng của cuộc sống” và 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “sự khủng hoảng” đã gợi lên nhiều định hướng lý thuyết khác nhau trong nghiên cứu tâm lý học. Tác giả tiêu biểu đầu tiên là Adolf Meyer, người đã phát triển “ý nghĩa chung của tâm thần học” gồm cả một biểu đồ đời sống liên lạc với những biến cố cuộc sống với bệnh tật thể lý và những rối nhiễu. Nghiên cứu của ông đã định hướng cho sự phát triển một dụng cụ đo lường những biến cố đời sống và stress Năm 1940, Meyer đã thiết lập một thư mục các biến cố của đời sống như: chuyển nhà, thành công, thất bại, sinh, tử.
trong gia đình. Ông là người đầu tiên đưa ra giả thuyết về sự liên hệ giữa các biến cố đời sống và bệnh tật Dựa vào đó, Holmes và Rache cùng cộng sự (1960-1970) đã xây dựng thang đo tái thích nghi xã hội gồm 43 biến cố của đời sống có ảnh hưởng trên những người bị các biến cố đó. Nghiên cứu này đã được thực hiện với mẫu 394 người từ nhiều dân tộc, văn hóa khác nhau, chia làm 15 cặp của các phân nhóm đối nghịch nhau về: kinh tế, xã hội, tôn giáo. Tiếp tục theo dõi các biến cố và sức khỏe của 88 người trong 10 năm, các ông nhận thấy 93% bệnh tật gắn liền với biến cố đời sống đã xảy ra trong vòng 2 năm [45; tr.
Sau đó, công trình này đã được thử nghiệm với nhiều cách thức khác nhau bởi Wyler, Masuda và Holmes (1974) và đi đến kết luận: Các biến cố cuộc sống liên quan đến nguyên nhân xảy ra bệnh tật, thời điểm xuất hiện và mức độ trầm trọng của nó [45; tr. Tuy nhiên, thang đo này vẫn còn có một vài nhược điểm như: Khó thích hợp với một số nhóm cư dân đặc biệt và không kể đến sự khác biệt nhân cách trong ứng phó với stress Năm 1979, Kosaba đặt lại vấn đề thang đo này và đưa ra giả thuyết: Nhân cách có lẽ là một biến số điều hòa giữa các biến cố đời sống và sự xuất hiện bệnh. Để chứng minh giả thuyết, Kosaba đã nghiên cứu trên mẫu gồm những cán bộ trung và cao cấp, nam giới, tuổi từ 40-49. Tất cả đều có 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chỉ số đơn vị thay đổi đời sống rất cao theo thang đo của Wyler, Masuda và Holmes.