Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI HÀ NHÌ ĐEN Ở Y TÝ, HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI, VIỆT NAM VÀ MÁ GA TÝ, HUYỆN KIM BÌNH, TỈNH VÂN NAM, TRUNG QUỐC 1. Những khái niệm cơ bản 1. Người Hà Nhì Người Hà Nhì là một trong những tộc người thiểu số có lịch sử lâu đời nhất ở biên cương Tây Nam của Trung Quốc. Trong bài ghi chép cổ tịch của Trung Quốc mang tên là “Thượng thư·Vũ cống” có ghi là dân tộc Tây Nam “Hòa Di”, là một nhóm nam thiên của người Khương thời cổ xưa trong đó gồm có tổ tiên của người Hà Nhì.
Trong bài ca dao cổ của người Hà Nhì kể về quê nhà của người Hà Nhì nằm ở một nơi được gọi là “Nò mà a mế” (có nghĩa là quê hương tốt đẹp), vậy thì có học giả suy đoán “Nò mà a mế” là phía nam sông Đại Độ Tứ Xuyên. Bởi vì theo sử sách ghi chép, vào thế kỷ thứ 3 TCN, “Hòa Di” đã phân bố ở đó và vùng đai đầm lầy phía Đông sông Nhã Lung gồm vùng Liên Tam Hải cũng như lưu vực sông A Nê (một chi nhánh bắt nguồn từ Liên Tam Hải). Do nhiều nguyên nhân như chiến tranh, dân số gia tăng, thiên tai, họ bắt đầu từ phía bắc di cư xuống phía nam, cuối cùng chủ yếu tập trung ở vùng giữa của núi Ai Lao Sơn và núi Mông Lạc Sơn. Đến thời Đường tổ tiên của người Hà Nhì đã di cư đến vùng giữa Nhĩ Hải và Điên Trì cũng như Điên Nam, được gọi là “Hòa Man” phân hóa từ Ô Man và Bạch Man (thời Tùy, thời Đường, dân tộc Hoa Hạ gọi chung các dân tộc cư trú ở 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tây Nam, nhưng lại phân chia trình độ văn hóa phát triển gần đồng bằng thì gọi là Bạch Man, trình độ phát triển còn thấp hơn gọi là Ô Man).
Đến thời Nam Chiếu, tổ tiên của người Hà Nhì tiếp tục thiên di, chủ yếu phân bố ở khu vực Điên Nam. Đên thời Nguyên, dân tộc Hà Nhì được gọi là Oát Nê và Hòa Nê, họ đã hoàn toàn ách rời ra Ô Man, trở thành cộng đồng dân tộc khác phân bố ở vùng núi phía nam Vân Nam giữa hạ lưu sông Hồng và sông Lan Thương (đoạn sông Mê Kông tại Trung Quốc). Đến thời Minh Thanh, truyền thuyết của người Hà Nhì cư trú tập trung ở Mặc Giang, Hồng Hà, Nguyên Dương, Lục Xuân trong khu núi Ai Lao Sơn cho rằng tổ tiên của họ du mục ở đồng bằng “Nò mà a mế” ở bờ sông phía bắc xa xưa, sau đó dần dần di cư xuống phía nam. Cho nên về “Nò mà a mế” là đâu, đến nay còn nhiều tranh luận trong lĩnh vực học thuật.19] Hiện nay ngoài đa số người Hà Nhì tập trung cư trú ở phía Tây Nam Trung Quốc, họ còn di cư sang các nước Đông Nam Á như Mianma, Thái Lan, Lào và Việt Nam, trải qua lịch sử diễn biến lâu đời, trở thành tộc người xuyên biên giới năm nước này.
Theo thống kê không chính thức, hiện nay dân số người Hà Nhì (những nhóm người Hà Nhì còn gọi là A Khà) trên thế giới khoảng hơn 1.86 triệu người. Theo Điều tra thống kê dân số năm 2010 Trung Quốc, người Hà Nhì ở Trung Quốc có 1.673 người, tập trung cư trú ở các huyện như Hồng Hà, Lục Xuân, Nguyên Dương, Kim Bình và các huyện tự trị khác của châu tự trị Hồng Hà gần biên giới Việt Nam cũng như các huyện như Cảnh Hồng, Mường Hải của 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tây Song Bản Nạp và các huyện thị như Cảnh Đông, Nguyên Giang, Phổ Nhĩ, Tân Bình, Giang Thành. Và ở Trung Quốc, người Hà Nhì có nhiều nhóm khác nhau, tên gọi cũng rất nhiều như Hà Nhì, Hào Nhì, Ái Nhì, Hòa Nhì v. Theo Thống kê dân số và nhà ở năm 2009 của Việt Nam, có 21.725 người Hà Nhì sinh sống ở Việt Nam, chủ yếu phân bố ở huyện Mường Tè, Phong Thổ, Sín Hồ của tỉnh Lai Châu và huyện Bát Xát của tỉnh Lào Cai.
Ở Việt Nam, người Hà Nhì được chia ra 3 nhóm theo ngôn ngữ, trang phục, phong tục tập quán và ý thức dân tộc: người Hà Nhì Cồ Chồ, người Hà Nhì Lạ Mí và người Hà Nhì Đen. Văn hóa vật thể Đầu tiên, về mặt văn hóa, định nghĩa thời xưa và hiện nay, phương Đông, phương Tây, đều có giải thích gần giống và nét khác. Trong bài nghiên cứu này sẽ giới thiệu một số quan điểm tiêu biểu. Trong tiếng Trung, định nghĩa văn hóa có thể kể từ thời Tây Chu (khoảng năm 1046 TCN).
Theo ghi chép của Chu Dịch, quẻ Bi đã có từ “Văn” và “Hóa”: Xem dáng vẻ con người, lấy đó mà giáo hóa thiên hạ. Thời Tây Hán Lưu Hướng lấy văn hóa có nghĩa là văn trị giáo hóa để dùng đối lập với vũ lực, có lẽ đó là sử dụng từ văn hóa sớm nhất ở Trung Quốc. Theo cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam của PGS. VS Trần Ngọc Thêm, từ văn hóa trong tiếng Việt được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức trình độ văn hóa, lối sống (nếp sống văn hóa), theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn như văn hóa 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Còn ở phương Tây, từ văn hóa lấy chung gốc chữ La-tinh là chữ cultus animi mang ý nghĩa là trồng trọt tinh thần. Theo trình độ phát triển và thời điểm khác nhau, những học giả phương Tây thì đưa ra định nghĩa khác nhau về văn hóa. Đến nay, định nghĩa văn hóa được công nhận phổ biến là do UNESCO đưa ra: “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyển cơ bản của con người, những hệ thống các gia trị, những tập tục và những tín ngưỡng: Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân.
Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lí. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tỏi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân”. Đó là theo nghĩa rộng của văn hóa. Tiếp, về văn hóa vật thể, theo cuốn sách Cơ sở văn hóa Việt Nam (Trần Quốc Vượng chủ biên), theo quan niệm của UNESCO có một trong 2 loại di sản văn hóa là những di sản văn hóa hữu thể (Tangible) như đình, đền, chùa, miếu, lăng, mộ, nhà sàn v.
Chủ nghĩa Mác-Lê-nin không coi văn hóa vật thể là sự tập hợp những sự vật linh tinh, ngẫu nhiên, mà dạy rằng mỗi một xã 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hội đều tạo nên những của cải vật chất đặc biệt của mình, vì những của cải ấy lệ thuộc vào những công cụ lao động nhất định đánh dấu những đặc điểm của một thời đại nhất định và của một xã hội nhất định. Trong quan điểm dân tộc học, theo tác giả Hoàng Lương, văn hóa vật thể được giải thích gồm các lĩnh vực sinh hoạt vật chất như nhà cửa, trang phục, đồ ăn thức uống, phương tiện đi lại, vận chuyển và hệ thống công cụ sản xuất. Tất cả các lĩnh vực văn hóa vật thể đều thể hiện cách ứng xử khéo léo, phù hợp với thực tế, điều kiện môi trường tự nhiên sinh thái và hoàn cảnh xã hội cụ thể của từng tộc người. Tóm lại, văn hóa vật thể là những của cải vật chất xung quanh nhóm người mà được sáng tạo từ bàn tay con người, là kết tinh của sinh hoạt nhóm người đó.
văn hóa vật thể có thể phản ánh diện mạo cuộc sống, gia đình, lịch sử của nhóm người đó, mang ý nghĩa lao động đậm đặc. Cho nên, trong chương 2 người viết định hướng nghiên cứu các thành tố văn hóa sinh kế, phương tiện đi lại, vận chuyển, nhà cửa, trang phục và ẩm thực trong văn hóa vật thể của người Hà Nhì Đen và người Hà Nhì Lô Mê. Văn hóa phi vật thể Như trên đã nêu, trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam (Trần Quốc Vượng chủ biên) theo quan niệm của UNESCO có một trong 2 loại di sản văn hóa nữa là những di sản văn hóa vô hình (Intangible) bao gồm các biểu hiện tượng trưng và “không sờ thấy được” của văn hóa được lưu truyền và biến đổi qua thời gian, với một số quá trình tái tạo, “trùng tu” của cộng đồng rộng rãi. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Những di sản văn hóa tạm gọi là vô hình này theo UNESCO bao gồm cả âm nhạc, múa, truyền thống, văn chương truyền miệng, ngôn ngữ, huyền thoại, tư thế (tư thái), nghi thức, phong tục, tập quán, y dược cổ truyền, việc nấu ăn và các món ăn, lễ hội, bí quyết và quy trình công nghệ của các nghề truyền thống.
Theo cuốn Bản chất của văn hóa, Những thành tựu của triết học, khoa học, nghệ thuật và văn học hợp thành lĩnh vực văn hóa phi vật thể của xã hội. Nhưng khái niệm văn hóa phi vật thể còn bao gồm cả đạo đức hay luân lý nữa. Trong quan điểm dân tộc học, theo tác giả Hoàng Lương, mỗi dân tộc thể hiện các hoạt động văn hóa phi vật thể của mình mỗi vẻ khác nhau, nhưng đều bao gồm các lĩnh vực như ngôn ngữ, tín ngưỡng, tôn giáo, văn học, nghệ thuật dân gian (folklore), lễ hội truyền thống, tri thức dân gian và các phong tục, tập quán liên quan đến chu kỳ đời người. Văn hóa phi vật thể bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống lại vượt lên trên cuộc sống thực, có sức sống bền bỉ, mãnh liệt và lâu dài.
Tóm lại, văn hóa phi vật thể là những sự vật vô hình sức mạnh qua biểu hiện của con người. Văn hóa phi vật thể có thể phản ứng sự tương tác giữa con người và môi trường xung quanh gồm môi trường xã hội, môi trường tự nhiên, là những quan niệm truyền dạy từ đời này sang đời khác. Từ văn hóa phi vật thể có thể học được một nhóm người đối xử thế giới vật chất (thế giới bên ngoài) như thế nào từ thế giới tinh thần (thế giới bên trong).