Đặt vấn đề Sự tăng nhanh dân số khiến nhu cầu thực phẩm tăng theo, trong đó nhu cầu về thịt và sản phẩm từ thịt đóng một vai trò quan trong. Dé đảm bảo sức khỏe người tiêu ding, việc sản xuất và chế biến thịt phải đáp ứng yêu cầu về chất lượng. Điều làm cho các nhà chăn nuôi và thú y hiện nay phải quan tâm là tình trạng nhiễm một số loại ký sinh trùng trên quày thịt. Chúng không chỉ làm giảm sức sinh trưởng của gia súc khi mắc phải mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe nếu người tiêu dùng ăn phải các loại thịt mang trùng.
Có nhiều loài ký sinh trùng có thể tạo nang trên quảy thịt của gia súc, trong đó có Toxoplasma gondii, một loại nguyên sinh động vật khá phổ biến được tìm thấy đầu tiên bởi Nicolle và Manceaux (1908) và được Levine phân loại vào năm 1973. Heo bị nhiễm 7. gondii thường không biểu hiện lâm sàng nhưng trong trường hợp nhiễm nặng thú có thể có các triệu chứng yếu ớt, run cơ, tiêu chảy hoặc có thể gây sảy thai, thai chết khi mới sinh ở những heo nái bị nhiễm trong giai đoạn mang thai. Người có thé bị nhiễm 7: gondii do ăn phải các loại thịt sống, thịt tái chứa nang gây nhiễm, hay do tiếp xúc trực tiếp với nang gây nhiễm trong các loại thịt tươi trong quá trình chế biến.
Người bị nhiễm 7: gondii có thé sẽ xuất hiện những ton thương ở nhiều cơ quan, nhất là ở thần kinh trung ương, võng mạc, hạch bạch huyết, cơ và hậu quả có thể gây viêm não, mù mắt.Phụ nữ mang thai nếu bị nhiễm T. gondii có thé lây nhiễm sang con, với những biểu hiện bệnh lý trên thai như tôn thương ở hệ thần kinh, mắt, nội tạng hoặc để lại những di chứng nguy hiểm cho trẻ, cũng có thể bị sảy thai hoặc chết sơ sinh. Bệnh nhân mắc phải hội chứng suy giảm miễn dich (AIDS) nếu nhiễm 7: gondii sẽ có biéu hiện bệnh lý nghiêm trọng hơn. Xuất phát từ những van đề trên chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “SO SÁNH PHƯƠNG PHÁP NGƯNG KET CẢI TIEN VÀ PHƯƠNG PHÁP LATEX TRONG ĐIÊU TRA TỶ LỆ HEO CÓ KHÁNG THẺ KHÁNG TOXOPLASMA GONDII TẠI MOT SỐ TRAI CHAN NUÔI Ở THÀNH PHO HO CHÍ MINH” 1.2 Muc tiéu Đánh giá hiệu qua chân đoán của phương pháp ngưng kết cải tiến (Modified agglutination test-MAT) và ngưng kết latex (Latex agglutination test-LA) dé chọn phương pháp tối ưu trong điều tra tình hình heo có khang thé khang 7.
gondii ở một số trại chăn nuôi tại thành phố Hồ Chí Minh.3 Yêu cầu (1) Xác định mức độ thống nhất của 2 phương pháp ngưng kết MAT và LA trong chan đoán 7. gondii trên heo. (2) Xác định tỷ lệ heo có kháng thé kháng 7: gondii theo từng nhóm heo thịt, heo nái, heo nọc và theo tuổi của heo bằng phương pháp ngưng kết MAT. (3) Xác định hiệu giá khang thé kháng 7.
gondii trên heo bằng phương pháp ngưng kết MAT. Chương 2 TÔNG QUAN 2.1 Giới thiệu về Toxoplasma và bệnh do Toxoplasma gondii 2.1 Phan loại học Toxoplasma là nguyên sinh động động vật thuộc: Ngành Apicomplexa Lớp Sporozoasida Lớp phụ Coccidisina Bộ Eucoccidiorida Bộ phụ Eimeriorina Ho Sarcocystidae Giống Toxoplasma Toxoplasma gondii là loài được chú ý nhất trong giống Toxoplasma và cũng là loài duy nhất ký sinh và gây bệnh trên các động vật máu nóng. Ngoài 7: gondii, người ta còn mô tả một số loài khác ký sinh ở các loài động vat máu lạnh gồm 7. serpai nhưng sự hiểu biết về vòng đời cũng như cấu trúc của những loài này chưa đầy đủ (trích dẫn bởi Dubey và Beattie, 2000).
Theo dẫn liệu của Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương (1997), giống Toxoplasma có 7 loài, trong đó có 3 loài liên quan đến chăn nuôi thú y là 7.2 Dac diém lich sir T. gondii được phát hiện đầu tiên bởi Nicolle và Manceaux (trích dan bởi Dubey và Beattie, 2000), ở Tunisia, vào năm 1908, trên loài gam nham hoang da Ctenodactylus gundi. Cùng thời điểm đó, Plendore cũng có mô tả về Toxoplasma ở Braxin. Cole và cộng sự ghi nhận trường hợp heo nhiễm 7: gondii có triệu chứng lâm sàng đầu tiên ở Ohio, Hoa Kỳ vào năm 1951.
Năm 1923, Janku cho biết sự hiện diện của 7. gondii ở võng mạc mắt một em bé bị thủy thủng não nhưng chưa rõ vai trò gây bệnh của 7' gondii trên người (trích dẫn bởi Dubey va Beattie, 2000). Năm 1939, Sabin lần đầu tiên chứng minh Toxoplasma được phan lập trên người và Toxoplasma đã được phát hiện trước đó trên thú là một loài. Nam 1948, Sabin và Feldman giới thiệu phương pháp Dye test (DT) dé chan đoán 7 gondii và đến nay DT vẫn là “tiêu chuẩn vàng” dé chan đoán 7: gondii trên người và thú.
Mãi đến năm 1970, người ta mới có những thông tin đầy đủ về vòng đời của 7: gondii (trích dẫn bởi Tenter va ctv, 2000).3 Cach sinh bénh T. gondii có thé gây nhiễm trên các ký chủ ở nhiều mức độ khác nhau, từ trường hợp nhiễm trùng không có triệu chứng lâm sàng đến các trường hợp bệnh nặng với những triệu chứng nghiêm trọng. Trong số các loài Toxoplasma, T. gondii đóng vai trò quan trọng nhất vì nó có thé gây bệnh với các biểu hiện bệnh ly nặng nề, đặc biệt có thể gây sảy thai trên người và gia súc.
Vòng đời của 7. gondii trải qua nhiều ky chủ gồm ký chủ trung gian và ký chủ cuối cùng. Trên ký chủ trung gian, 7. gondii có hai giai đoạn phát triển vô tính.
Trong giai đoạn thứ nhất, các tachyzoite (hoặc endozoite) tăng sinh nhanh chóng bằng cách nhân lên trong các tế bào của ký chủ trung gian. Tachyzoite ở thế hệ cuối sẽ khởi đầu giai đoạn thứ hai của sự phát triển vô tinh và tạo thành các nang (cyst) trong mô. Trong nang, bradyzoite (hoặc cystozoite) cũng nhân lên bằng hình thức phân chia. Các nang nay có ái lực cao với các mô thần kinh và mô cơ.
7: gondii thường định vị ở thần kinh trung ương, mắt, cơ xương và cơ tim, ít gặp 7. gondii ở các cơ quan khác như phôi, gan và thận. gondii là giai đoạn cuối của vòng đời ký sinh ở ký chủ trung gian. Các nang này có khả năng gây nhiễm khi được nuốt phải bởi các ký chủ trung gian khác hay các ký chủ cuối cùng.
Ở một số ký chủ trung gian, 7. gondii có thể ton tại lâu dai với đời sông của ký chủ. Cơ chế của hiện tượng nay chưa được biết rõ, nhưng nhiều người đồng tình rằng các nang sẽ vỡ ra định kỳ với sự biến đôi các bradyzoite thành các tachyzoite, sau đó các tachyzoite sẽ đi vào vòng tuần hoàn và xâm nhập lại các tế bao của ký chủ và biến đổi thành các bradyzoite trong các nang mới. Khi được ky chủ cuối cùng (các thú họ mèo) ăn vào, các bradyzoite trong nang 7.
gondii sẽ bắt đầu giai đoạn phát triển vô tính mới bang cách nhân lên trong các tế bao biểu mô của ruột non. Ở các ký chủ cuối cùng, giai đoạn cuối của sự sinh sản vô tính khởi đầu cho giai đoạn sinh sản hữu tính. Sự sinh sản hữu tính và hình thành noãn nang (oocyst) diễn ra trong tế bảo biéu mô ruột non. Các oocyst chưa tao bao tử sẽ được phóng thích vào lòng ruột và theo phan ra ngoài.
Oocyst sau khi ra ngoài môi trường sẽ hình thành bao tử trong vòng 1 — 5 ngày tùy thuộc vào điều kiện nhiệt độ và âm độ môi trường. Lúc này, các oocyst đã có khả năng gây nhiễm, bên trong mỗi oocyst chứa hai sporocyst và mỗi sporocyst có bốn sporozoite. Cả 3 giai đoạn phát triển của 7. gondii gồm tachyzoite, bradyzoite và oocyst đã tạo bao tử đều có khả năng gây nhiễm.
Thú và người có thé bị nhiễm thông qua hai con đường chủ yếu sau đây: (A) truyền ngang do ăn phải noãn nang gây nhiễm từ môi trường hoặc nang gây nhiễm trong thịt hay phủ tạng sống hoặc chưa nấu chín; (B) truyền dọc tachyzoite qua nhau thai. Ngoài ra, tachyzoite có thé truyền lây qua sữa của một số loài như cừu, dé, bò, lạc đà.chưa được tiệt trùng. Người ta cũng tìm thấy tachyzoite trong các dich tiết khác như nước bọt, đàm, nước tiểu, nước mắt và tinh dịch nhưng đến nay chưa có bằng chứng nao cho thay có sự truyền lây 7.gondii từ những chất tiết này sang người. gondii có thê truyền lây từ ký chủ cuối cùng sang ký chủ trung gian va ngược lại, cũng như giữa các ký chủ cuối cùng và các ký chủ trung gian với nhau.
Cho đến nay, người ta vẫn chưa biết rõ trong các đường truyền lây khác nhau, đường nao quan trong hơn về mặt dịch tễ. Tuy nhiên, sự lan truyền bêänh vẫn xảy ra ngay cả khi thiếu sự hiện điện của một loại ký chủ nào đó. Người có thé bị nhiễm 7: gondii do được ghép tạng hay do tiếp xúc với phân mèo. Nguồn nước sinh hoạt bị ô nhiễm oocyst cũng là nguyên nhân làm cho người mắc phải 7.
Một 6 dịch cấp tính do 7: gondii đã được ghi nhận xảy ra trên 110 người ở Vancouver, Canada năm 1995. Bằng những nghiên cứu hồi cứu về dịch tễ học, người ta đã xác định nguyên nhân xảy ra ô dịch trên là do nguồn nước uống đô thị bị nhiễm oocyst (Tenter và ctv, 2000).1: Tachyzoite của Toxoplasma gondii (Nguồn: http://www.edu/~users/jcfox/htdocs/clinpara/clinpara.htm) A và B: Các nang (>) của 7 gondii chứa các bradyzoite (—>) (vết phết nhuộm Giemsa). gondii chứa các bradyzoite bắt mau PAS và vách nang không bắt mau PAS khi nhuộm periodic acid Shiff (PAS). gondii chứa hang tram bradyzoite.3: Oocyst cua Toxoplasma gondii đã hình thành bao tử (Nguồn: library/s-z/Toxoplasmosis/body_Toxoplasmosis-il8.htm) KCCC ăn phải Oocyst chưa tạo KCTG Giai đoạn bào tử mang sinh san ở trùng ruột non sMerozoites `“ Oocyst được thải si vd theo phan A ⁄ XS wt Tachyzoite `" ây Bayan nhiễm Lee wee qua KCTG Sự truyén dọc ầ qua nhauthai "| Oocyst được KCTG Oocyst nhiễm trở ăn phải lai KCCC Người ăn phải : thit mang tring KCTG là người, bò, cừu, heo va hơn 350 loài đông vat có xương sống khác Ghi chú: KCCC: Ký chủ cuối cùng; KCTG: Ký chủ trung gian Hình 2.4: Vòng đời của 7oxoplasma gondii (Nguồn:http:/www.org/ag/againfo/foto/Toxoplasma.4 Dịch té Hiện nay, người ta vẫn chưa hiéu rõ cơ chế việc heo bị nhiễm 7: gondii trong tự nhiên, nhưng nhiều ý kiến cho rằng nguyên nhân chủ yếu là do heo ăn phải các oocyst có trong môi trường chăn nuôi.
Bằng cách so sánh tỷ lệ nhiễm 7: gondii ở hai đàn heo được nuôi cách xa nhau và khác nhau về phương thức chăn nuôi, người ta ghi nhận tỷ lệ nhiễm 7. gondii trên dan A được nuôidchăn thả là 28%, cao hơn ty lệ này trên đàn B được nuôi nhốt hoàn toản là 0,8%.