Tổng quan nghiên cứu

Nghiên cứu văn hóa dân tộc thiểu số vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc giữ vị trí chiến lược trong việc củng cố bản sắc tộc người và thắt chặt tình đoàn kết quốc tế. Theo số liệu Tổng điều tra Dân số và Nhà ở, người Nùng tại Việt Nam đạt 968.800 người, là tộc người có quy mô dân số đứng thứ 7 trong 53 dân tộc thiểu số, tập trung đông nhất tại tỉnh Lạng Sơn với 314.295 người. Trong khi đó, tại Trung Quốc, người Choang là dân tộc thiểu số đông nhất với 16.381.000 người theo kỳ điều tra dân số toàn quốc lần thứ 6, cư trú chủ yếu tại Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây. Cùng chung cội nguồn ngôn ngữ Tày - Thái và lịch sử di cư lâu đời, kho tàng âm nhạc dân gian của hai cộng đồng này phản ánh sâu sắc thế giới quan nông nghiệp truyền thống.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Việt Nam học tập trung giải quyết vấn đề biến đổi và bảo tồn di sản dân ca trước làn sóng hiện đại hóa và đô thị hóa. Mục tiêu cụ thể là phân loại, phân tích cấu trúc thể loại, hình thức diễn xướng, trường hợp thực hành và xác định các chiều kích tương đồng - dị biệt giữa dân ca người Nùng Phàn Slình tại huyện Cao Lộc (tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam, diện tích 644 km², dân số 74.588 người) và người Choang tại huyện Long Châu (tỉnh Sùng Tả, Quảng Tây, Trung Quốc, diện tích 2.317,8 km², dân số 260.200 người với 95,89% là người Choang).

Phạm vi thời gian khảo sát kéo dài từ dấu mốc Đổi mới năm 1986 ở Việt Nam và công cuộc Cải cách mở cửa đầu thập niên 1980 ở Trung Quốc đến năm 2019. Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao khi bổ sung nguồn ngữ liệu điền dã chuẩn xác cho ngành Dân tộc học so sánh, đồng thời cung cấp các giải pháp nâng cao hiệu quả bảo tồn văn hóa phi vật thể tại 23 xã, thị trấn thuộc huyện Cao Lộc và 12 xã, thị trấn của huyện Long Châu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết Nhân học văn hóa và Dân tộc học làm nền tảng cốt lõi, nhìn nhận văn hóa dân gian dưới góc độ chủ thể văn hóa nhằm giải mã hành vi lựa chọn và thực hành âm nhạc của cư dân bản địa. Bên cạnh đó, nghiên cứu kết hợp lý thuyết Tiếp biến văn hóa (Acculturation) để làm rõ tác động qua lại giữa văn hóa đa số và văn hóa thiểu số, cùng lý thuyết Phát triển bền vững nhằm gắn kết việc bảo tồn di sản âm nhạc với sinh kế và kinh tế du lịch biên mậu.

Hệ thống khái niệm công cụ bao gồm 4 thuật ngữ then chốt:

  • Dân ca: Nghệ thuật ngôn từ và âm nhạc truyền miệng phi vật thể của cộng đồng lao động.
  • Tộc người xuyên biên giới: Các nhóm dân cư có chung nguồn gốc lịch sử, văn hóa nhưng phân bố ở hai quốc gia có thể chế chính trị khác nhau.
  • Không gian diễn xướng: Môi trường tự nhiên và xã hội nơi âm nhạc dân gian được cất lên.
  • Di sản văn hóa phi vật thể: Các tập quán, biểu đạt, tri thức được cộng đồng thừa nhận và trao truyền qua nhiều thế hệ.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chủ đạo là điền dã dân tộc học kết hợp phân tích so sánh lịch đại và đồng đại. Cỡ mẫu nghiên cứu thực địa bao gồm 65 cuộc phỏng vấn sâu (35 mẫu tại huyện Cao Lộc và 30 mẫu tại huyện Long Châu) cùng 8 cuộc thảo luận nhóm tập trung tại các xã vùng biên như xã Cao Lâu (huyện Cao Lộc) và xã Vũ Đức (huyện Long Châu).

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích (Purposive Sampling) được áp dụng để tiếp cận 3 nhóm đối tượng: nghệ nhân dân gian trên 50 tuổi nắm giữ vốn cổ, cán bộ quản lý văn hóa cơ sở và thanh thiếu niên lứa tuổi 12-25. Việc lựa chọn phương pháp phân tích so sánh liên ngành (kết hợp Văn hóa học, Ngôn ngữ học và Xã hội học) giúp làm sáng tỏ mối quan hệ giữa biến đổi cấu trúc giai điệu với sự chuyển dịch môi trường kinh tế biên mậu giai đoạn 2017-2019. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ hơn 80 tài liệu chuyên khảo xuất bản tại Việt Nam, Trung Quốc và quốc tế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu chỉ ra sự tương đồng sâu sắc về cấu trúc thể loại giữa hát Sli của người Nùng Phàn Slình và Đán ca (Sơn ca) của người Choang Long Châu. Cả hai thể loại đều sử dụng thể thơ 5 hoặc 7 chữ, diễn xướng theo hình thức đối đáp nam nữ ngẫu hứng, không cần nhạc cụ đệm và giữ vai trò cầu nối tình cảm lứa đôi. Tương tự, nghệ thuật Then (vừa đàn tính vừa hát) hiện diện ở cả hai bên biên giới như một nghi lễ tâm linh chuyển dần sang hình thức trình diễn nghệ thuật quần chúng.

Tuy nhiên, mức độ biến đổi và thực trạng bảo tồn giữa hai địa bàn có sự phân hóa rõ rệt:

Thứ nhất, về quy mô tham gia của giới trẻ, khảo sát tại xã Cao Lâu cho thấy trong một lớp học 32 học sinh chỉ có 2 em (khoảng 6,25%) biết hát Sli, trong khi nhóm người thực hành thường xuyên có độ tuổi từ 45 trở lên chiếm tới 88% tổng số người tham gia tại các hội diễn.

Thứ hai, thể loại hát cưới Cỏ Lảu của người Nùng đã suy giảm hơn 90% tần suất xuất hiện trong đám cưới truyền thống từ sau thập niên 1990, chuyển dịch dần sang hình thức nghe nhạc hiện đại.

Thứ ba, người Choang Long Châu phát triển Đán ca thành 3 làn điệu địa phương riêng biệt (điệu Long Châu, điệu Bài Tông, điệu Kim Long) và gắn kết chặt chẽ với lễ hội Nùng Động (Lồng Tồng) cùng Chợ hội Dân ca ngày 13 tháng 4 âm lịch, thu hút hàng nghìn lượt du khách mỗi năm, đạt hiệu quả khai thác kinh tế di sản cao hơn so với tính chất tự phát tại Lạng Sơn.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu so sánh giữa hai tộc người có thể được trực quan hóa qua biểu đồ cột thể hiện tần suất xuất hiện của các thể loại dân ca trong không gian sinh hoạt và bảng đối chiếu 5 tiêu chí: cấu trúc âm luật, nhạc cụ bổ trợ, không gian diễn xướng, mức độ thương mại hóa và chính sách bảo trợ.

Nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt bắt nguồn từ mô hình quản lý văn hóa và bối cảnh chuyển dịch kinh tế. Tại huyện Cao Lộc, diện tích đồi núi chiếm trên 80%, quá trình công nghiệp hóa và mở rộng các tuyến giao thông huyết mạch như Quốc lộ 1A, Quốc lộ 4A khiến thanh niên có xu hướng di cư làm việc tại các khu công nghiệp ở Bắc Ninh, Hải Phòng, Hà Nội, làm đứt gãy môi trường trao truyền tự nhiên. Ngược lại, tại huyện Long Châu, chính quyền địa phương đã sớm định vị không gian văn hóa thành thương hiệu "Quê hương nghệ thuật Hát Then Trung Quốc", xây dựng các thiết chế văn hóa bài bản và đưa di sản vào chuỗi giá trị du lịch sinh thái.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Số hóa và lưu trữ tư liệu âm thanh: Thực hiện thu âm chuẩn độ nét cao, phiên âm đối chiếu chữ Nôm Nùng - chữ Choang Latinh và xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số cho 100% các làn điệu Sli, Cỏ Lảu, Then cổ và Đán ca; mục tiêu hoàn thành lưu trữ 500 bài dân ca trước quý 4 năm 2027 dưới sự chủ trì của Viện Âm nhạc và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lạng Sơn.

  2. Chuẩn hóa giáo dục di sản học đường: Tích hợp tối thiểu 2 tiết học dân ca địa phương mỗi tháng vào chương trình giáo dục địa phương cho 100% trường tiểu học và trung học cơ sở tại huyện Cao Lộc và huyện Long Châu trong giai đoạn 2026-2029; đào tạo kỹ năng truyền dạy cho 50 giáo viên âm nhạc nòng cốt.

  3. Xây dựng không gian giao lưu dân ca biên giới gắn với du lịch: Thành lập chuỗi liên kết Lễ hội Lồng Tồng - Chợ hội Kỳ Lừa (Lạng Sơn) với Lễ hội Nùng Động (Long Châu), tổ chức định kỳ 2 năm một lần; phấn đấu tăng tỷ lệ du khách trải nghiệm văn hóa dân ca lên 40% trong giai đoạn 2027-2030 dưới sự phối hợp của chính quyền hai địa phương biên giới.

  4. Thực thi chính sách đãi ngộ nghệ nhân dân gian: Phê duyệt mức trợ cấp sinh hoạt hàng tháng và kinh phí hỗ trợ mở lớp truyền dạy tại gia đình cho 100% nghệ nhân đã được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân Nhân dân, Nghệ nhân Ưu tú, hoàn thành áp dụng từ năm 2026 do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt ngân sách.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Việt Nam học, Nhân học, Văn hóa học: Khai thác khung lý thuyết so sánh xuyên biên giới, phương pháp luận điền dã thực địa và tư liệu so sánh đồng đại giữa các tộc người cùng nhóm ngôn ngữ Tày - Thái.
  • Cán bộ quản lý văn hóa và cơ quan hoạch định chính sách du lịch địa phương: Tham khảo mô hình bảo tồn gắn với kinh tế di sản của huyện Long Châu để vận dụng xây dựng các sản phẩm du lịch văn hóa bền vững tại tỉnh Lạng Sơn và các tỉnh miền núi phía Bắc.
  • Giảng viên, giáo viên âm nhạc và văn học dân gian: Sử dụng tuyển tập tư liệu bài hát Sli, Then, Cỏ Lảu, Đán ca đã được dịch nghĩa và chú giải làm học liệu giảng dạy trong chương trình giáo dục văn hóa địa phương.
  • Các chuyên gia dự án phát triển cộng đồng và tổ chức bảo tồn di sản: Vận dụng các phát hiện về biến đổi sinh kế và đứt gãy thế hệ để thiết kế các dự án phục hồi không gian văn hóa truyền thống vùng dân tộc thiểu số.

Câu hỏi thường gặp

  1. Điểm tương đồng lớn nhất giữa dân ca Nùng và dân ca Choang là gì? Cả hai tộc người đều sở hữu nghệ thuật hát đối đáp giao duyên độc đáo (hát Sli ở người Nùng và Đán ca ở người Choang) với cấu trúc thơ 5 hoặc 7 chữ, diễn xướng ngẫu hứng không cần nhạc cụ đệm, phản ánh sâu sắc tâm tư, tình cảm và tri thức dân gian của cư dân nông nghiệp lúa nước vùng thung lũng đá vôi.

  2. Vì sao thể loại hát Cỏ Lảu của người Nùng có nguy cơ mai một cao nhất? Cỏ Lảu là thể loại dân ca nghi lễ đám cưới với quy tắc ứng đối phức tạp kéo dài 2 đến 3 ngày. Do các đám cưới ngày nay được tinh giản theo nếp sống mới chỉ còn trong 1 ngày, cộng thêm sự du nhập của âm nhạc hiện đại, khiến hơn 90% gia đình trẻ tại Cao Lộc không còn duy trì hình thức hát nghi lễ này.

  3. Hát Then của hai tộc người có sự chuyển dịch chức năng như thế nào trong xã hội hiện đại? Từ một nghi lễ mang màu sắc tín ngưỡng tâm linh do thầy Then, thầy Tào thực hiện trong các dịp cầu mùa, chữa bệnh, Then đã chuyển mạnh sang hình thức nghệ thuật biểu diễn sân khấu hóa. Hiện nay có hơn 100 câu lạc bộ Then và đàn tính được thành lập tại Lạng Sơn và Quảng Tây phục vụ sinh hoạt văn hóa quần chúng.

  4. Sự khác biệt chính trong mô hình bảo tồn dân ca giữa Cao Lộc và Long Châu là gì? Long Châu áp dụng mô hình bảo tồn gắn với công nghiệp văn hóa và du lịch thương hiệu cấp quốc gia, tổ chức Chợ hội dân ca định kỳ thu hút đông đảo khách tham quan. Trong khi đó, việc bảo tồn tại Cao Lộc vẫn chủ yếu mang tính phong trào, dựa vào nỗ lực tự thân của các nghệ nhân cao tuổi tại địa phương.

  5. Việc thanh niên đi làm ăn xa ảnh hưởng thế nào đến việc lưu giữ dân ca? Làn sóng di cư lao động tới các trung tâm công nghiệp lớn như Bắc Ninh, Hải Phòng (đối với người Nùng) hay Nam Ninh, Quảng Đông (đối với người Choang) làm mất đi môi trường sinh hoạt cộng đồng thường nhật, dẫn đến tình trạng hơn 80% thế hệ trẻ không còn thông thạo tiếng mẹ đẻ và làn điệu truyền thống.

Kết luận

  • Luận văn hoàn thành việc hệ thống hóa toàn diện các thể loại dân ca tiêu biểu của người Nùng (Sli, Cỏ Lảu, Then, Tang lễ, Hát ru, Đồng dao) và người Choang (Đán ca, Then, Khúc hát tục lễ, Tự sự ca).
  • Chứng minh mối quan hệ nguồn cội lịch sử và tính tương đồng về không gian văn hóa của hai tộc người vùng biên giới Việt - Trung qua cấu trúc âm nhạc và thi pháp dân gian.
  • Chỉ ra 4 xu hướng biến đổi văn hóa cốt lõi: kế thừa giá trị, đa dạng hóa phương thức truyền thụ qua công nghệ, tiếp biến văn hóa ngoại lai và nguy cơ suy giảm bản sắc trong giới trẻ.
  • Đóng góp nguồn tư liệu điền dã thực chứng giá trị với 65 mẫu khảo sát chuyên sâu tại 2 địa bàn trọng điểm Cao Lộc và Long Châu, phục vụ đắc lực cho công tác nghiên cứu Dân tộc học so sánh.
  • Đề xuất lộ trình 4 nhóm giải pháp chiến lược khả thi từ số hóa di sản, giáo dục học đường đến phát triển du lịch biên giới giai đoạn 2026-2030.

Nghiên cứu là tài liệu tham khảo thiết thực cho các nhà khoa học, nhà quản lý và cộng đồng học thuật trong việc hoạch định chính sách bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể vùng biên cương. Hãy áp dụng ngay những kiến thức và giải pháp từ luận văn để chung tay gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa truyền thống độc đáo của cộng đồng các dân tộc thiểu số.