Chương 1: Một số vấn đề chung về chuẩn mực kế toán : I. Khái niệm và sự cần thiết phải có chuẩn mực kế toán: 1. Khái niệm về chuẩn mực kế toán : Theo khoản 1 điều 8, luật kế toán số 03/2003/QH11 thì “chuẩn mực kế toán gồm những nguyên tắc và những phương pháp kế toán cơ bản để ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính .” Như vậy, các chuẩn mực kế toán là các văn bản tập hợp các nguyên tắc và phương pháp kế toán ở mức độ tổng quát để định hướng cho các doanh nghiệp trong việc ghi sổ kế toán các giao dịch của doanh nghiệp cũng như trong việc ;ập báo cáo tài chính. Kết cấu của một chuẩn mực kế toán gồm các phần sau : - Mục đích của chuẩn mực - Phạm vi của chuẩn mực - Các định nghĩa sử dụng trong chuẩn mực - Phần nội dung chính gồm các nguyên tắc, các phương pháp, các yêu cầu về lập và trình bày báo cáo tài chính 2.
Sự cần thiết phải có chuẩn mực kế toán Mục đích chung của việc soạn thảo và ban hành các chuẩn mực kế toán là để thống nhất hoạt động kế toán trong một phạm vi địa lý (đó có thể là trong một quốc gia, trong một khu vực hay trên toàn cầu). Nếu như không có chuẩn mực kế toán , các công ty sẽ sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để lập và trình bày báo cáo tài chính của mình. Ví dụ nếu như không có chuẩn mực kế toán thì sẽ có công ty thì ghi nhận chi phí sửa chữa và bảo trì tài sản vào giá trị tài sản với lý do là các chi phí đó giúp tài sản duy trì được trạng thái hoạt động tốt và nhờ đó đem lại lợi ích kinh tế cho công ty. Thế nhưng sẽ có công ty lại lý luận rằng chi phí sửa chữa và bảo 4 Downloaded by Nav Patel (comeatmebebe@gmail.com) lOMoARcPSD|9844924 Website: http://www.vn Email : lienhe@docs.368 trì tài sản chỉ giúp cho tài sản duy trì trạng thái hiện tại chứ không làm tăng thêm lợi ích kinh tế từ tài sản.
Do đó, công ty không ghi nhận chi phí đó vào giá trị tài sản. Mỗi công ty đều cho rằng lý luận của mình đúng và lập báo cáo tài chính theo những cách khác nhau. Và tất yếu, hai báo cáo tài chính của hai công ty không thể đem ra so sánh với nhau được do chúng không được lập trên cùng một cơ sở. Không chỉ có thế, việc thiếu một bộ chuẩn mực kế toán sẽ là cơ hội cho các công ty sử dụng các thủ pháp kế toán để làm đẹp báo cáo tài chính.
Các công ty thậm chí có thể biến tình trạng thua lỗ của công ty thành có lãi. Việc thiếu chuẩn mực kế toán cũng tạo cơ hội cho các công ty được tùy ý trình bày các thông tin có liên quan đến các đối tượng kế toán trên báo cáo tài chính. Công ty có thể giấu diếm các thông tin bất lợi cho mình và chỉ trình bày những thông tin có lợi cho mình. Chính vì những vấn đề trên, người sử dụng báo cáo tài chính sẽ không thể đưa ra một quyết định kinh tế hợp lý dựa vào các thông tin trên báo cáo tài chính được.
Ví dụ như nhà đầu tư không thể đưa ra quyết định chọn lựa công ty nào để đầu tư vốn. Ngân hàng không thể đánh giá được khả năng trả nợ của các công ty trong quá trình thẩm định tín dụng để quyết định nên cho công ty nào vay. Các cơ quan thuế có thể thu không đủ thuế. Nhà Nước không thể đánh giá được một cách chính xác hiệu quả hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp… Ngoài ra, việc có một bộ chuẩn mực kế toán cũng giúp ích cho người sử dụng báo cáo tài chính trong việc đọc và phân tích các báo cáo tài chính được dễ dàng hơn.
Người sử dụng báo cáo tài chính có thể hiểu được cấu trúc của báo cáo tài chính, bản chẩt của các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính, hiểu được các thuyết minh báo cáo tài chính bằng cách đọc các chuẩn mực kế toán. Từ đó, người sử dụng báo cáo tài chính mới có thể đưa ra các phân tích chính xác về hiệu quả hoạt động của công ty. 5 Downloaded by Nav Patel (comeatmebebe@gmail.com) lOMoARcPSD|9844924 Website: http://www.vn Email : lienhe@docs.368 Một lợi ích nữa mà người sử dụng báo cáo tài chính có thể thu được từ các chuẩn mực kế toán đó là sự đảm bảo rằng các công ty và các kiểm toán viên thực hiện việc kiểm toán báo cáo tài chính đã tuân thủ các chuẩn mực kế toán trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình. Người sử dụng có thể không có kiến thức về kế toán cũng như không đủ khả năng để hiểu được các chuẩn mực kế toán nhưng nếu họ nghi ngờ về tính trung thực và hợp lý của các báo cáo tài chính thì họ có thể thuê một tổ chức chuyên nghiệp để kiểm định việc tuân thủ các chuẩn mực kế toán của ban giám đốc các công ty cũng như của các kiểm toán viên có liên quan.
Như vậy, việc ban hành các chuẩn mực kế toán là một cách để tăng thêm lòng tin cho người sử dụng báo cáo tài chính đối với các báo cáo tài chính và ngăn ngừa nguy cơ gian lận trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính. Phân loại chuẩn mực kế toán : Hiện nay trên thế giới đang có hai hệ thống chuẩn mực là chuẩn mực kế toán quốc tế và chuẩn mực kế toán quốc gia. Các chuẩn mực kế toán quốc gia được soạn thảo và ban hành theo những cơ chế rất khác nhau ở mỗi nước. Do mỗi nước có điều kiện kinh tế và chính trị rất khác nhau nên các chuẩn mực kế toán giữa các nước có nhiều sự khác biệt.
Chuẩn mực kế toán quốc tế được soạn thảo và ban hành bởi Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB). Mục đích của việc ban hành chuẩn mực kế toán quốc tế là để tạo ra một sự hài hòa quốc tế trong lĩnh vực kế toán, để giảm bớt các chi phí của việc các báo cáo tài chính được lập và trình bày theo những chuẩn mực kế toán có nhiều khác biệt giữa các nước. Các chuẩn mực kế toán quốc tế sau một thời gian dài phát triển đã được đón nhận bởi nhiều nước trên thế giới. Xu hướng của các nước hiện nay là cố gắng đưa chuẩn mực quốc gia tiệm cận với các chuẩn mực kế toán quốc tế.
6 Downloaded by Nav Patel (comeatmebebe@gmail.com) lOMoARcPSD|9844924 Website: http://www.vn Email : lienhe@docs. Chuẩn mực kế toán quốc tế: 1. Lịch sử hình thành và phát triển của chuẩn mực kế toán thế giới : 1. Sự cần thiết phải có chuẩn mực kế toán quốc tế và những rào cản đối với việc hình thành chuẩn mực kế toán quốc tế : Sự phát triển của kế toán ở các nước thường có sự khác nhau về các qui định và cách thức hạch toán kế toán cộng thêm sự khác biệt về hệ thống kinh tế và điều kiện thương mại giữa các nước dẫn đến sự khác nhau giữa các nước về mô hình và phương pháp kế toán.
Sự khác nhau này tạo nên nét đặc trưng của hệ thống kế toán mỗi quốc gia nhưng lại có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả của thị trường thế giới và có thể làm giảm sút khả năng hợp tác, tìm kiếm vốn để cạnh tranh một cách có hiệu quả. Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, sự tồn tại của hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế với vai trò là ngôn ngữ chung để làm cầu nối cho các nền kinh tế là một nhu cầu tất yếu. Tuy nhiên, rào cản đối với việc tạo lập các chuẩn mực kế toán chung là khá nhiều: (a) Sự khác biệt trong mục đích sử dụng báo cáo tài chính giữa các nước : ở một số nước báo cáo tài chính chỉ đơn thuần được lập cho mục đích tính thuế, còn ở nước khác là để hỗ trợ cho quá trình ra quyết định của nhà đầu tư. Điều đó sẽ khiến cho yêu cầu trình bày báo cáo chi tiết đến mức độ nào và chi tiết những khoản mục nào là khác nhau giữa các nước (b) Do hệ thống pháp luật khác nhau dẫn đến sự hạn chế của một số hoạt động kế toán và điều này đương nhiên sẽ được phản ánh trong các chuẩn mực kế toán (c) Mỗi nước có một quan điểm khác nhau về người sử dụng báo cáo tài chính và tầm quan trọng của họ.
Như ở Mỹ thì nhà đầu tư và các tổ chức tín dung được đặt ưu tiên lên hàng đầu trong khi ở Châu Âu thì người lao động lại được quan tâm nhiều hơn. 7 Downloaded by Nav Patel (comeatmebebe@gmail.com) lOMoARcPSD|9844924 Website: http://www.vn Email : lienhe@docs.368 (d) Các nước đang phát triển hiển nhiên đang chậm chân hơn so với các nước đã phát triển trong việc soạn thảo các chuẩn mực kế toán. Có những quy tắc và những chuẩn mực cơ bản đã được ban hành từ lâu ở các nước đã phát triển thì nay mới chỉ được các nước đang phát triển tiến hành soạn thảo. (e) Chủ nghĩa quốc gia cũng góp phần ngăn cản việc sử dụng các chuẩn mực kế toán của nước khác.
(f) Sự khác biệt về văn hóa khiến cho mục tiêu của hệ thống kế toán khác nhau giữa các nước (g) Một vài nước phải ở vào trong những hoàn cảnh đặc biệt như siêu lạm phát, nội chiến, hạn chế lưu thông tiền tệ,… tác động tới mọi mặt của đời sống xã hội cũng như ảnh hưởng lớn tới các công ty khiến cho họ không thể lập được các báo cáo theo các tiêu chuẩn bình thường. (h) Một số nước không có một tổ chức kế toán độc lập đủ vững mạnh để tạo áp lực dư luận giúp cho việc soạn thảo các chuẩn mực kế toán tốt hơn và thúc đẩy sự hài hòa về các nguyên tắc kế toán giữa các quốc gia. Sự hình thành và phát triển của tổ chức soạn thảo chuẩn mực kế toán quốc tế: 1. Ủy ban xây dựng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC)1 : 1.
Ra đời năm 1973 ở London, nước Anh : Thế nhưng, bất chấp những rào cản kể trên, năm 1973, Ủy ban xây dựng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) đã ra đời tại London, nước Anh với tư cách là tổ chức soạn thảo chuẩn mực quốc tế đầu tiên trên thế. Sự ra đời của IASC là kết quả của một thỏa thuận giữa các hiệp hội nghề nghiệp 2 của các 1 Nguồn tham khảo: Barry J. Epstein và Eva K. Jermakowicz, Wiley IFRS 2009 : Interpretation and Application of International Accounting and Financial Reporting Standards, John Wiley & Sons © 2009, chuơng 1.