Chương 1: Tổng quan lý thuyết về chất lượng thông tin kế toán và Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế 1. Tổng quan về chất lượng thông tin kế toán trong doanh nghiệp 1. Quan điểm về chất lượng thông tin kế toán Trong lĩnh vực kế toán, dựa trên quy định các thuộc tính của hội đồng CMKT quốc tế (IASB, 2018), một số nhà nghiên cứu đưa ra nhiều định nghĩa đa dạng về chất lượng thông tin kế toán trên BCTC “là khả năng cung ứng các yêu cầu của nhà quản lý nhằm đạt được sự hiểu biết sâu sắc về tình hình hoạt động của tổ chức giúp họ đưa ra quyết định, giám sát, thực hiện các mục tiêu chiến lược” (Noor và Ibrahim, 2013). Chất lượng của các báo cáo tài chính là vấn đề lợi ích giữa các cơ quan quản lý, các cổ đông, các nhà nghiên cứu và các nghiệp vụ kế toán riêng của mình.
Điều này là do thực tế rằng báo cáo tài chính đã là một phương tiện chính của giao tiếp thông tin tài chính đến bên ngoài (Johnson et al. Theo Biddle, Hilary, and Verdi (2009) chất lượng báo cáo tài chính là độ chính xác mà báo cáo tài chính truyền tải thông tin về tình hình hoạt động của công ty, đặc biệt là dòng tiền kỳ vọng của công ty thông báo cho các cổ đông. Nhóm tác giả Van Beest, Braam, and Boelens (2009) cho rằng mục tiêu chính của báo cáo tài chính là cung cấp thông tin liên quan có chất lượng cao đến các tổ chức kinh tế, tài chính, hữu ích cho việc ra quyết định kinh tế. Ngoài ra cung cấp các thông tin báo cáo tài chính chất lượng cao là rất quan trọng vì nó sẽ ảnh hưởng tích cực đến việc cung cấp vốn với các bên liên quan trong việc đầu tư, tín dụng, các quyết định phân bổ nguồn lực nhằm nâng cao hiệu quả kinh kế.
Một báo cáo tài chính có chất lượng cao sẽ làm tăng hiệu quả đầu tư (Healy & Palepu, 2001) Jonas và Blanchet (2000) cho rằng nếu dựa theo nhu cầu của người sử dụng thông tin thì chất lượng thông tin kế toán trên BCTC được xác định dựa trên cơ sở của tính hữu ích của thông tin đối với người sử dụng thông tin; Nếu tập trung vào quan điểm bảo vệ cổ đông và nhà đầu tư thì thông tin kế toán trên BCTC có chất lượng khi cung cấp cho cổ đông với “công bố đầy đủ và hợp lý”. Tang và cộng sự (2008) cho rằng chất lượng thông tin kế toán trên BCTC được hiểu như là khả năng mà BCTC cung cấp một cách trung thực và thực tế những thông tin liên quan đến 7 hiệu quả hoạt động và tình hình tài chính của một thực thể. Theo Schiller và Vegt (2010) thì BCTC có chất lượng nếu thông tin kế toán trình bày trung thực và kịp thời. Dựa theo khuôn mẫu của CMKT quốc tế (IAS 01), mục tiêu chung luận án xây dựng khái niệm về chất lượng TTKT trên BCTC là “cung cấp thông tin tài chính hữu ích về DN cho các đầu tư hiện tại, tiềm năng và người cho vay, chủ nợ khác trong việc đưa ra quyết định”.
Các tiêu chí về chất lượng thông tin kế toán của FASB & IASB 2010 cho thấy mục tiêu chung của việc lập thông tin kế toán, cụ thể là lập các BCTC là nhằm cung cấp thông tin tài chính hữu ích cho những nhà đầu tư, người cho vay, các chủ nợ khác hiện hữu và tiềm năng trong việc ra quyết định về việc cung cấp nguồn lực cho một thực thể (IASB, 2010). Khuôn mẫu nêu rõ Thích hợp và Trình bày trung thực là đặc tính chất lượng nền tảng. Bên cạnh đó, các thuộc tính làm gia tăng chất lượng thông tin kế toán bao gồm: Có khả năng so sánh, Có thể kiểm chứng, Kịp thời và Có thể hiểu được. - Thích hợp: khả năng tác động của thông tin đến việc ra quyết định của người sử dụng.
Thông tin có thể có khả năng ảnh hưởng đến việc ra quyết định khi nó mang Giá trị dự đoán, Giá trị xác nhận hay cả hai (IASB, 2010). • Giá trị dự đoán: thông tin được sử dụng như là một thông tin đầu vào bởi người sử dụng khi dự đoán các kết quả tương lai (IASB, 2010). • Giá trị xác nhận: thông tin cung cấp những phản hồi về việc thừa nhận hoặc những sự thay đổi của các đánh giá trước đó (IASB, 2010). - Trình bày trung thực: bao gồm Toàn vẹn, Trung lập, Không sai sót của thông tin.
• Toàn vẹn: bao hàm toàn bộ các thông tin cần thiết để người sử dụng hiểu được các hiện tượng bao hàm mọi miêu tả và giải thích cần thiết. Đối với một số khoản mục, Toàn vẹn còn bao hàm việc giải thích các mức ý nghĩa về bản chất của các khoản mục, các nhân tố và các hoàn cảnh có thể tác động đến chất lượng và bản chất đó cũng như quy trình được sử dụng để xác định các giá trị đó (IASB, 2010). 8 • Trung lập (Neutral): được xem như là không chứa đựng những định kiến, điều chỉnh, nhấn mạnh, làm nhẹ hoặc là tìm mọi cách để chế biến thông tin làm gia tăng khả năng người sử dụng đón nhận thông tin với một cái nhìn tốt đẹp hoặc ngược lại. Tuy nhiên Trung lập không có nghĩa là việc trình bày thông tin không có mục tiêu hoặc là không ảnh hướng đến hành vi.
Bởi lẽ, đặc tính Thích hợp có nói rằng thông tin phải có ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng (IASB, 2010) • Không sai sót (Free from error): không sai sót có nghĩa là không có lỗi hoặc là bỏ sót trong việc miêu tả sự kiện và qui trình được sử dụng để sản xuất thông tin. Thí dụ như việc ước lượng về mặt giá trị không thể được xác định là chính xác hay không chính xác. Tuy nhiên, việc trình bày của ước lượng này cần phải đúng sự thật nếu giá trị được xác định rõ ràng, việc ước lượng được xem là xác đáng, bản chất và giới hạn của việc ước lượng cần phải được giải thích và không có sai sót trong việc lựa chọn và áp dụng quy trình phù hợp trong quá trình ước lượng (IASB, 2010). - Các thuộc tính làm tăng chất lượng thông tin: bao gồm Có khả năng so sánh, Có thể kiểm chứng, Kịp thời và Có thể hiểu được (IASB, 2010).
• Có khả năng so sánh: thông tin có liên quan đến một thực thể sẽ trở nên hữu ích hơn nếu nó có thể được so sánh với những thông tin tương tự của các thực thể khác hoặc là giữa các kỳ khác nhau trong cùng một thực thể thông tin. Nhất quán, mặc dù có liên quan đến khả năng so sánh, nhưng không phải là một. Nhất quán có liên quan đến việc sử dụng cùng một phương pháp cho cùng một khoản mục giữa các kỳ kế toán trong phạm vi của thực thể hoặc trong cùng một kỳ kế toán giữa các thực thể. Có khả năng so sánh là mục tiêu và tính nhất quán giúp đạt được mục tiêu đó (IASB, 2010).
• Có thể kiểm chứng: giúp đảm bảo người sử dụng rằng thông tin phản ánh các hiện tượng kinh tế một cách đúng sự thật. Có thể kiểm chứng có nghĩa là những người quan tâm độc lập và có kiến thức đến thông tin đều đạt được sự đồng thuận, mặc dù sự đồng thuận đó không phải là toàn vẹn, đó là một sự mô tả đặc thù của thông tin được trình bày trung thực. Thông tin cần 9 phải được kiểm chứng cả về số lượng lẫn giá trị. Việc kiểm chứng có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp (IASB, 2010).
• Kịp thời: thông tin luôn sẵn sàng cho việc ra quyết định. Một cách chung nhất, thông tin càng lỗi thời thì tính hữu ích càng thấp (IASB, 2010). • Có thể hiểu được: việc phân loại, mô tả và trình bày thông tin rõ ràng và súc tích làm cho thông tin trở nên có thể hiểu được. Có một số hiện tượng vốn đã phức tạp và không dễ dàng để hiểu được.
Việc loại bỏ các thông tin này ra khỏi BCTC có thể làm cho thông tin được trình bày có thể hiểu được hơn, tuy nhiên, các báo cáo này sẽ không toàn vẹn và có thể dẫn đến sai lầm cho việc ra quyết định (IASB, 2010). Đôi khi, mặc dù thông tin được trình bày có thể hiểu được và người sử dụng có thiện chí, vẫn phải cần sự giúp đỡ của những nhà tư vấn để có thể hiểu được những hiện tượng kinh tế phức tạp. Từ các quan điểm, nhận định trên, có thể đi đến kết luận chất lượng thông tin kế toán là một bộ sưu tập dữ liệu và xử lý các dữ liệu đó thành các thông tin kế toán cần thiết cho người sử dụng có hiệu quả để đưa ra các quyết định chính xác. Trong khuôn khổ khóa luận, em tập trung nghiên cứu về chất lượng thông tin kế toán trên BCTC, một thông tin kế toán BCTC có chất lượng là khi nó thỏa mãn những yếu tố: thích hợp, trung thực, có khả năng so sánh, có thể kiểm chứng, kịp thời và có thể hiểu được.
Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán Các yếu tố quyết định đến chất lượng thông tin kế toán, cụ thể trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận là chất lượng thông tin trên BCTC, gồm có yếu tố chính bao gồm chuẩn mực kế toán, hệ thống chính trị - pháp luật, cấu trúc doanh nghiệp, công nghệ thông tin, yếu tố nhà quản trị và năng lực đội ngũ kế toán. Trong khuôn khổ khóa luận, em tập trung vào nghiên cứu yếu tố Chuẩn mực kế toán, bởi khi DN chuyển sang áp dụng các Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) thì báo cáo tài chính cũng sẽ thay đổi theo, đây là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng góp phần thay đổi chất lượng kế toán. Yếu tố chuẩn mực kế toán Các chính sách kế toán, chế độ kế toán hay Chuẩn mực kế toán đều có ảnh hưởng rất lớn đối với các thông tin kế toán được thể hiện trên BCTC. Bản chất của BCTC là đầu ra của hệ thống thông tin kế toán, cung cấp thông tin cho những người có quan hệ lợi ích với DN trong việc ra các quyết định kinh tế.
Sự đầy đủ của một hệ thống chuẩn mực và chế độ kế toán là một hành làng pháp lý đầy đủ, đảm bảo bao quát hết tất cả các vấn đề liên quan đến các thông tin trên BCTC, giúp cho các kế toán viên có đầy đủ căn cứ pháp lý cần thiết để trình bày thông tin kế toán mang tính trung thực và hợp ý, giúp đảm bảo và nâng cao chất lượng kiểm toán.