Chương 1, người học có thể nắm được: - Các hệ thống chuẩn mực kế toán hiện đang áp dụng trên thế giới; Cấu trúc hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế IFRS cũng như lộ trình áp dụng IFRS ở Việt Nam. - Các nội dung cơ bản về Khung khái niệm căn bản cho BCTC như mục tiêu chung, các đặc điểm định tính của thông tin tài chính hữu ích, các yếu tố của BCTC, việc đo lường, trình bày và công bố thông tin lên BCTC. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HỆ THỐNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ 1. Các hệ thống chuẩn mực kế toán đang áp dụng trên thế giới Các hệ thống chuẩn mực kế toán hiện đang được sử dụng trên thế giới đó là IAS và IFRS.
Hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế – IAS (International Accounting Standarts). IAS qui định và hướng dẫn về các nguyên tắc, phương pháp kế toán chung cho các quốc gia. Cơ quan ban hành hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) là Ủy ban chuẩn mực Kế toán quốc tế – IASB (trụ sở tại London). Hệ thống Chuẩn mực BCTC quốc tế – IFRS (International Financial Reporting Standarts) đã và đang dần thay thế cho IAS.
Hiện nay, IFRS đã được áp dụng một cách bắt buộc trên thế giới. Tuy nhiên vẫn còn một số nước đang áp dụng một cách hài hoà chẳng hạn như Việt Nam vẫn đang kết hợp hài hòa nội dung của IAS và IFRS để phù hợp với đặc điểm nền kinh tế. Cấu trúc hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế IFRS Tính từ khi thành lập đến nay, IASB đã ban hành 41 chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS), hiện nay, chỉ còn 34 chuẩn mực là có hiệu lực áp dụng. 1 Danh sách chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) 2 Danh sách chuẩn mực BCTC quốc tế (IFRS) 1.
Sơ đồ tổ chức, nguyên tắc vận hành của Liên đoàn kế toán quốc tế Liên đoàn Kế toán Quốc tế (International Federation of Accountant - IFAC) là một hiệp hội chuyên ngành quốc tế về kế toán. IFAC đã xây dựng nhiều tiêu chuẩn, tài liệu, các hệ thống chuẩn mực cho ngành kế toán và được thừa nhận ở nhiều nước trên thế giới. Các quốc gia thừa nhận đã xây dựng lại hệ thống chuẩn cho riêng mình dựa trên hệ thống quy chuẩn của IFAC. Sơ đồ tổ chức của Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) 1.
Lộ trình áp dụng IFRS ở Việt Nam Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 345/QĐ-BTC về việc phê duyệt "Đề án áp dụng chuẩn mực BCTC tại Việt Nam" do Bộ Tài chính ban hành tháng 3 năm 2020. Trong đó, chỉ trình bày trình áp dụng IFRS ở Việt Nam được thực hiện theo 3 giai đoạn. Lộ trình áp dụng này gồm 3 giai đoạn được tóm tắt như sau: Giai đoạn 1 – giai đoạn chuẩn bị (từ năm 2020 đến năm 2021) Trong giai đoạn này, Bộ Tài chính chuẩn bị các điều kiện cần thiết triển khai thực hiện Đề án như xây dựng, ban hành Đề án áp dụng chuẩn mực BCTC. Đồng thời, Bộ Tài chính cũng xây dựng, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật phù hợp trình bày bản dịch IFRS sang tiếng Việt, bổ sung sửa đổi ban hành cơ chế tài chính liên quan, đào tạo nguồn nhân lực, quy trình triển khai… Giai đoạn 2 – giai đoạn áp dụng tự nguyện (từ năm 2022 đến năm 2025) Giai đoạn này dành cho những doanh nghiệp có đủ nhu cầu và đủ nguồn lực sẽ áp dụng tự nguyện IFRS để lập BCTC và đồng thời thông báo cho Bộ Tài chính trước khi áp dụng.
Thường những công ty như công ty niêm yết, đại chúng hay doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài…sẽ có nhu cầu áp dụng trong giai đoạn này. Khi các doanh nghiệp trên áp dụng IFRS thì phải đảm bảo cung cấp đầy đủ thông tin và giải trình rõ ràng, minh bạch với cơ quan thuế, cơ quan quản lý, giám sát về việc xác định nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước. Giai đoạn 3 – giai đoạn bắt buộc áp dụng IFRS (từ sau năm 2025) 4 Dựa trên cơ sở đánh giá tình hình thực hiện áp dụng IFRS của giai đoạn 1, Bộ Tài chính căn cứ nhu cầu, khả năng sẵn sàng của các doanh nghiệp và tình hình thực tế để chọn thời điểm bắt buộc áp dụng IFRS để lập BCTC theo IFRS. Những đối tượng phải áp dụng IFRS như Công ty mẹ của tập đoàn kinh tế Nhà nước, Công ty mẹ là công ty niêm yết, Công ty đại chúng quy mô lớn là công ty mẹ chưa niêm yết, … Doanh nghiệp cũng được tự nguyện lập BCTC riêng theo IFRS.
Khi doanh nghiệp đảm bảo cung cấp đầy đủ thông tin và giải trình rõ ràng, minh bạch với cơ quan thuế, cơ quan quản lý, giám sát về việc xác định nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước. KHUNG KHÁI NIỆM CĂN BẢN CHO BCTC (CONCEPTUAL FRAMEWORK FOR FINANCIAL REPORTING) Khung Khái niệm cho BCTC (Khung Khái niệm) được ban hành năm 2010 bởi IASB và được rà soát năm 2018. "Khung Khái niệm mô tả mục tiêu và khái niệm BCTC cho mục đích chung. Mục đích của Khung Khái niệm là giúp IASB phát triển các Chuẩn mực IFRS dựa trên những khái niệm nhất quán, đồng thời phát triển những chính sách kế toán nhất quán và giúp các bên liên quan có thể hiểu, diễn giải được các Chuẩn mực IFRS." [Khung Khái niệm cho BCTC SP1.1] Có một điểm cần lưu ý đó là Khung Khái niệm không phải là một chuẩn mực.
Khung Khái niệm không thay thế bất kỳ một Chuẩn mực nào. Ý nghĩa: Khung Khái niệm giúp nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình của Ban quản trị và đem lại hiệu quả cho các thị trường tài chính trên thế giới. Từ đây có thể giúp nâng cao chất lượng thông tin tài chính, giảm chi phí liên quan đến việc sử dụng vốn và chi phí lập BCTC quốc tế. Mục tiêu của mục đích chung của BCTC Mục tiêu của BCTC cho mục đích chung tạo thành nền tảng của Khung khái niệm.
Mục tiêu của BCTC là cung cấp thông tin tài chính của đơn vị báo cáo giúp các bên liên quan (nhà đầu tư, bên cấp tín dụng hiện tại và tiềm năng) trong việc ra quyết định. Những quyết định này có thể là việc mua bán hay nắm giữa các công cụ nợ, công cụ vốn chủ sở hữu, hay cung cấp các khoản vay… Theo Khung Khái niệm cho BCTC đoạn 1.3: "Các quyết định mô tả ở trên phụ thuộc vào lợi nhuận mà các nhà đầu tư, bên cho vay và cấp tín dụng khác hiện tại và tiềm năng kỳ vọng, ví dụ cổ tức, thanh toán lãi và gốc hoặc tăng giá thị trường. Kỳ vọng của nhà đầu tư, bên cho vay và cấp tín dụng khác về lợi nhuận phụ thuộc vào đánh giá của họ về giá trị, thời gian, tính không chắc chắn của (và triển vọng về) dòng 5 tiền thuần tương lai chảy vào đơn vị và đánh giá của họ về trách nhiệm điều hành của ban quản trị đối với nguồn lực kinh tế của đơn vị. Các nhà đầu tư, bên cho vay và cấp tín dụng khác hiện tại và tiềm năng cần thông tin giúp họ thực hiện các đánh giá đó.
Các đặc điểm định tính của thông tin tài chính hữu ích 1. Giới thiệu chung: Các đặc điểm định tính của thông tin tài chính hữu ích nhận định loại thông tin có tính hữu ích nhất đối với các bên liên quan (nhà đầu tư, bên cho vay, bên cấp tín dụng khác trong hiện tại và tiềm năng trong tương lai) để họ đưa ra các quyết định liên quan đến đơn vị báo cáo dựa trên những thông tin được cung cấp trong BCTC của đơn vị (thông tin tài chính). Các đặc điểm định tính này được xem là hữu ích đối với các bên liên quan (nhà đầu tư, bên cho vay, bên cấp tín dụng khác trong hiện tại và tiềm năng trong tương lai) để họ ra các quyết định dựa trên thông tin được cung cấp dưới dạng BCTC. Đặc điểm cơ bản của thông tin tài chính hữu ích là thích hợp và trình bày trung thực.
Đặc điểm nâng cao của thông tin tài chính hữu ích là có thể so sánh được, kiểm tra được, kịp thời và dễ hiểu. [Khung Khái niệm cho BCTC đoạn 2. Các đặc điểm định tính cơ bản Thích hợp "Thông tin tài chính thích hợp là thông tin có khả năng tạo ra sự khác biệt trong quyết định của người sử dụng. Thông tin có thể tạo ra sự khác biệt trong một quyết định ngay cả khi một số người sử dụng không khai thác nó hay đã biết về thông tin đó từ những nguồn khác." [Khung Khái niệm cho BCTC đoạn 2.6] "Thông tin tài chính có thể tạo nên sự khác biệt trong các quyết định nếu có giá trị phỏng đoán và giá trị xác nhận hay cả hai" [Khung Khái niệm cho BCTC đoạn 2.7] "Thông tin tài chính có giá trị phỏng đoán nếu có thể sử dụng như đầu vào cho quá trình phỏng đoán kết quả tương lai.
Để có giá trị phỏng đoán, thông tin tài chính không cần phải là một sự phỏng đoán hay dự báo. Thông tin tài chính với giá trị phỏng đoán được người đọc sử dụng để thực hiện các phỏng đoán của bản thân họ." [Khung Khái niệm cho BCTC đoạn 2.8] "Thông tin tài chính có giá trị xác nhận nếu cung cấp phản hồi (xác nhận hay thay đổi) đối với các đánh giá trong quá khứ." [Khung Khái niệm cho BCTC đoạn 2.9] "Giá trị phỏng đoán và giá trị xác nhận của thông tin tài chính là có mối quan hệ lẫn nhau. Thông tin có giá trị phỏng đoán thông thường cũng có giá trị xác nhận. Ví dụ, thông tin doanh thu năm hiện tại có thể sử dụng như cơ sở phỏng đoán doanh thu tương lai, cũng có thể được so với ước tính doanh thu trong quá khứ.
Kết quả so 6 sánh này có thể giúp người sử dụng chỉnh sửa và cải thiện quá trình ước tính trước đó." [Khung Khái niệm cho BCTC đoạn 2.10] Trình bày trung thực Thông tin tài chính trình bày trong BCTC phải phản ánh một cách trung thực các tình huống, bản chất của sự kiện kinh tế tài chính hơn là bị phụ thuộc vào hình thức pháp lý. Theo Khung Khái niệm cho BCTC đoạn 2.19: "Để trình bày trung thực một cách hoàn hảo, sự mô tả cần có 3 đặc tính: đầy đủ, khách quan và không có sai số. Tất nhiên, sự hoàn hảo nếu có là hiếm có thể đạt được. Mục tiêu của Ủy ban là tối đa hóa các đặc tính đó ở mức cao nhất có thể.