CHƯƠNG 1 123doc - 12 - TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG KẾ TOÁN VÀ QUÁ TRÌNH HÒA HỢP - HỘI TỤ KẾ TOÁN QUỐC TẾ CỦA CÁC QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI 1. Lược sử phát triển của hệ thống kế toán thế giới 1. Giai đoạn hình thành Trong quá trình nghiên cứu về lịch sử kế toán, các nhà khoa học đã tìm thấy nhiều tài liệu ghi khắc trên các cổ vật bằng đá, bằng đất nung của các dân tộc xa xưa cho thấy kế toán đã xuất hiện rất lâu, từ khoảng 3, 4 ngàn năm trước công nguyên. Điều này như minh chứng rõ hơn về lịch sử của kế toán: hình thành và phát triển cùng lúc với sự hình thành đời sống kinh tế xã hội của loài người.
Để có thể tồn tại và phát triển trước những thử thách khắc nghiệt của giới tự nhiên, con người luôn tìm mọi cách đương đầu và vượt khó khăn, cố gắng nâng cao đời sống thông qua hoạt động mua bán trao đổi hàng hóa. Và để hỗ trợ trong việc đo lường hiệu quả, đánh giá và tiên liệu những hoạt động kinh tế phát sinh, con người đã sử dụng một công cụ, đó chính là hạch toán. Khi xã hội phát triển thì công cụ này cũng ngày càng phát triển, phong phú và đa dạng về nội dung, hình thức và phương pháp. Phương pháp hạch toán kế toán ra đời và trở thành một một bộ phận không thể tách rời của lịch sử hạch toán.
Có thể nói trước khi trở thành một môn khoa học độc lập, hạch toán kế toán đơn thuần chỉ là công cụ được con người sử dụng để phản ánh, sao chép hiện thực của đời sống kinh tế một cách thụ động trong đầu óc của con người, không có sự hỗ trợ của các công cụ tính toán, dù là thô sơ nhất. Cho đến khi chữ viết và số học cao cấp ra đời, đỉnh cao là việc phát minh ra hệ đếm thập phân và sử dụng rộng rãi chữ số Ả rập, đã tạo điều kiện cho hạch toán kế toán phát triển, xuất hiện phương pháp hạch toán kế toán đầu tiên : phương pháp kế toán đơn. Phương pháp này chịu ảnh hưởng nhiều bởi nền văn minh La mã cổ đại và Ba Tư, thể hiện ở sự lệ thuộc vào các quy tắc của tài khoản tài sản và tiền tệ khi họ cho rằng, ban đầu người ta cần kê lại mọi tài sản, do đó phương pháp kiểm kê ra đời trước tiên. Tuy nhiên để thực hiện công việc này, cần 123doc - 13 - thiết phải phân loại tài sản theo một số tiêu thức nhất định, điều này đã dẫn đến việc hình thành một phương pháp mới: phương pháp tài khoản, và tài khoản trở thành một hệ thống thống nhất khi xuất hiện thước đo bằng tiền tệ.
Giai đoạn phát triển: Tuy nhiên do đời sống xã hội con người ngày càng phát triển, để có thể đáp ứng được nhu cầu sống và kinh doanh, phương pháp kế toán cũng ngày càng chi tiết và tỉ mỉ hơn. Năm 1494, phương pháp ghi sổ kép do Luca Pacioli – một nhà toán học người Ý – tạo ra được xem là một bước ngoặt mới trong quá trình phát triển kế toán. Cách thức ghi chép vào sổ cái, kỹ thuật ghi sổ kép cũng như các nguyên tắc kế toán căn bản, sự cân bằng giữa nợ và có trong phương pháp này đã đưa kế toán lần đầu tiên được xem như một môn khoa học và gây ảnh hưởng mạnh đến đời sống kinh tế xã hội của loài người khi được ứng dụng trên toàn thế giới. Có thể nói Luca Pacioli là một trong những nhà lý luận tiêu biểu của trường phái xem kế toán như một môn khoa học có tính phương pháp luận tổng hợp.
Tuy nhiên, trường phái này lại quá cường điệu tính chất khoa học của kế toán nên thường rơi vào chủ nghĩa thần bí hóa hạch toán kế toán. Sau Luca Pacioli, các nhà lý luận tiếp theo có cái nhìn thực tiễn hơn về hạch toán kế toán, họ bắt đầu hướng việc nghiên cứu lý giải và vận dụng kế toán như một công cụ kiểm tra và quản lý, là một môn khoa học pháp lý. Đại biểu chính của khuynh hướng này có thể kể đến các tác giả người Pháp như: Edmond Degrange, Ipponet Vanet, F. Tồn tại bên cạnh luận thuyết pháp lý là luận thuyết kinh tế về khoa học kế toán, khẳng định khoa học kế toán là khoa học về kiểm tra (F.Besta, 1891) hoặc khoa học về logic kinh tế (kế toán viên người Nga L.
Và cho đến ngày nay, các nhà nghiên cứu về hạch toán đã cùng thống nhất rằng, hạch toán kế toán bao gồm hai bộ phận chặt chẽ và đan lồng vào nhau, đó chính là bộ phận pháp lý và bộ phận kinh tế. 123doc - 14 - Sang thế kỷ 19, kế toán bắt đầu phát triển và được nâng tầm lên một mức độ phức tạp và tinh vi hơn. Sự xuất hiện của các công ty cổ phần tại Anh cùng với sự phát triển của nền kinh tế đã dẫn đến sự phát triển các kỹ thuật kế toán tài chính và kế toán quản trị phục vụ cho nền kinh tế. Kế toán trở thành một nghề mang tính chuyên nghiệp và cần được quản lý.
Trong giai đoạn này, hình thức sơ khai của các tổ chức nghề nghiệp đã xuất hiện. Năm 1880, Hiệp hội kế toán viên công chứng Anh và xứ Wales đã ra đời từ việc hợp nhất các hiệp hội kiểm toán viên như Edinburgh (1853), Glasgow (1855) và Aberdeen (1867), các công ty kế toán đa quốc gia cũng bắt đầu hình thành. Trải qua chiều dài lịch sử, nền văn minh, thương mại của nhân loại ngày càng phát triển, các hoạt động kinh tế, tài chính, ngân hàng, ngoại thương, … ngày càng đa dạng. Điều đó dẫn đến việc hệ thống kế toán cũng phải có nhiều cải tiến, thay đổi để vận dụng cho phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế, đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng thông tin kế toán để đưa ra quyết định.
Định nghĩa về kế toán và chuẩn mực kế toán 1. Định nghĩa về kế toán Do đời sống xã hội con người hình thành và phát triển qua rất nhiều giai đoạn nên cách nhận thức của con người về bản chất và nội dung của kế toán trong mỗi giai đoạn cũng có nhiều sự khác nhau. Vì thế, định nghĩa về kế toán trong từng thời kỳ cũng không giống nhau. Trong thời kỳ sơ khai, người ta quan niệm kế toán chỉ là một phương pháp, một hoạt động giản đơn, một cách thức để phân chia kết quả và theo dõi diễn biến của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
Dần dần, do cuộc sống ngày càng phát triển, nhận thức của con người về kế toán ngày càng được nâng cao, các chức năng và phương pháp kế toán cũng ngày càng hoàn thiện hơn. Kế toán được xem như là một môn khoa học và nghệ thuật thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về toàn bộ tài sản và sự vận động của tài sản (hay là toàn bộ thông tin về tài sản và các hoạt động kinh tế tài chính) trong doanh nghiệp nhằm cung cấp những thông tin hữu ích cho việc ra các quyết định về kinh tế - xã hội và đánh giá hiệu quả của các hoạt động trong doanh nghiệp. Để cung 123doc - 15 - cấp thông tin về kinh tế tài chính thực sự hữu dụng của một doanh nghiệp, cần có một số công cụ theo dõi những hoạt động kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp, để trên cơ sở đó tổng hợp các kết quả thành các bản báo cáo kế toán. Những phương pháp mà một doanh nghiệp sử dụng để ghi chép và tổng hợp thành các báo cáo kế toán định kỳ tạo thành hệ thống kế toán.
Chức năng phản ánh và kiểm tra của hệ thống kế toán bao gồm : Quan sát, thu nhận và ghi chép một cách có hệ thống hoạt động kinh doanh hàng ngày các nghiệp vụ kinh tế phát sinh và các sự kiện kinh tế khác. Phân loại các nghiệp vụ và sự kiện kinh tế thành các nhóm và các loại khác nhau, việc phân loại này có tác dụng giảm được khối lượng lớn các chi tiết thành dạng cô đọng và hữu dụng. Tổng hợp các thông tin đã phân loại thành các báo cáo kế toán đáp ứng yêu cầu của người ra các quyết định. Ngoài ra, quá trình kế toán còn bao gồm các thao tác như việc truyền đạt thông tin đến những đối tượng quan tâm và giải thích các thông tin kế toán cần thiết cho việc đưa ra các quyết định kinh doanh riêng biệt.
Định nghĩa về chuẩn mực kế toán Kế toán là một hoạt động mang tính chuyên môn cao có chức năng cung cấp các thông tin trung thực, hợp lý về tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, giúp cho người sử dụng có thể đưa ra các quyết định. Kế toán phải làm cho người sử dụng hiểu được, tin cậy và phải giúp so sánh được các thông tin tài chính. Muốn vậy, cần phải có các quy định làm khuôn mẫu giúp đánh giá, ghi nhận và trình bày thông tin tài chính, đó chính là những chuẩn mực kế toán. Tứ đó, có thể định nghĩa: Chuẩn mực kế toán là những quy định và hướng dẫn các nguyên tắc, nội dung, phương pháp và thủ tục kế toán cơ bản, chung nhất, làm cơ sở ghi chép kế toán và lập BCTC nhằm đạt được sự đánh giá trung thực, hợp lý, khách quan về thực trạng tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
123doc - 16 - Mục tiêu của chuẩn mực kế toán là đưa ra những quy định có tính nguyên tắc, mực thước làm cơ sở đo lường chất lượng một công việc, nhằm hướng công việc chuyên môn đi vào những nguyên tắc chung. Hay nói cách khác là quy định thống nhất nội dung, cách trình bày và thuyết minh báo cáo tài chính doanh nghiệp, nâng cao tính so sánh và nhất quán dựa trên thông lệ kế toán nói chung. Theo thông lệ phổ biến ở các quốc gia trên thế giới, cơ quan nghiên cứu và công bố chuẩn mực kế toán quốc gia thường là các Hiệp hội nghề nghiệp, Bộ Tài Chính hoặc các tổ chức vừa có tính chất Nhà nước, vừa có tính chất nghề nghiệp. Ví dụ : Ở Anh: Chuẩn mực kế toán do Ủy Ban Chuẩn Mực Kế Toán Quốc Tế (IASB) công bố.
Ở Mỹ: Chuẩn mực kế toán do Hội Đồng Chuẩn Mực Kế Toán Tài Chính (FASB) ban hành. Ở Pháp: Chuẩn mực kế toán do Hội Đồng Kế Toán quốc gia soạn thảo, Bộ Kinh Tế Tài Chính (CNCC) ban hành. Ở Việt Nam: Chuẩn mực kế toán do Bộ Tài Chính ban hành.