CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CÂU TƯỜNG THUẬT TRONG TIẾNG VIỆT 1. Khái niệm và phân loại câu tường thuật trong tiếng Việt 1. Khái niệm câu tường thuật trong tiếng Việt 1. Khái niệm và phân loại câu Từ những thế kỉ III - II trước Công nguyên, học phái ngữ pháp Alêcxangđria đã có định nghĩa về câu như sau: “Câu là sự tổng hợp của các từ biểu thị một tư tưởng trọn vẹn”.
Định nghĩa này cho đến ngày nay vẫn được sử dụng rất phổ biến. Tuy nhiên đến hiện tại, theo nghiên cứu khoa học, có rất nhiều định nghĩa về câu mà chúng ta không dễ dàng gì có thể thống kê lại. Định nghĩa về câu ngày nay thường được hình thành dựa trên 4 yếu tố: “hình thức, nội dung, chức năng và lĩnh vực nghiên cứu”.Diệp Quang Ban 2015, tr. Dựa trên 4 yếu tố này tác giả Diệp Quang Ban (2015) đã có định nghĩa về câu trong quyển Ngữ pháp tiếng Việt như sau: Câu là đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩ tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói, hoặc có thể kèm theo thái độ, sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm.
Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ. (Diệp Quang Ban 2015, tr.106) Về việc phân loại câu trong tiếng Việt rất phức tạp và theo từng quan niệm khác nhau sẽ có cách phân loại khác nhau. Tác giả (Diệp Quang Ban, 2015), đã phân loại câu theo 3 mặt như sau: Cấu tạo ngữ pháp, tác dụng giao tiếp cơ bản và mục đích nói của câu và cấu tạo dạng phủ định của câu. Trong khi đó, tác giả (Nguyễn Kim Thản, 1977) lại phân loại câu thành hai loại: kết cấu ngữ pháp và theo mục đích nói.
Trong đó câu được phân loại theo mục đích nói của câu (mục đích phát ngôn), sẽ được tiếp tục phân loại như sau: câu tường thuật (câu kể, câu trần thuật), câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu mệnh lệnh, câu cảm thán. 8 Tuy nhiên trong giới hạn của nghiên cứu này, chúng ta chỉ tìm hiểu chuyên sâu về câu tường thuật (câu kể, câu trần thuật) thông qua những phân tích về khái niệm, phân loại, đặc trưng và cấu trúc dưới đây. Khái niệm câu tường thuật Một số tác giả nhận định câu tường thuật thông qua những định nghĩa như sau: “Câu tường thuật được dùng để kể, xác nhận (là có hay không có), mô tả một vật với các đặc trưng (hoạt động, trạng thái, tính chất, quan hệ) của nó, hoặc một sự kiện với các chi tiết nào đó. Nó là hình thức biểu hiện thông thường của một phán đoán tuy rằng không phải câu nào cũng có nội dung là một phán đoán.” (Diệp Quang Ban, 2015 tr.225) Hay tác giả (Hoàng Trọng Phiến 1980) có định nghĩa về câu kể như sau: “Nội dung cơ bản của câu là nêu lên, nói về các sự kiện, các hiện tượng, các tình trạng hoặc hành động.
Các ý kiến nêu lên không đòi hỏi người nghe đáp lại mà để người nghe biết và đồng tình hoặc tư duy cùng với mình.” (Hoàng Trọng Phiến 1980, tr.269) “Nhằm mục đích kể về hoạt động, trạng thái, tính chất hay chủng loại của đối tượng, câu tường thuật là hình thức biểu hiện thông thường nhất của phán đoán và được dùng rộng rãi nhất. Mục đích của câu tường thuật có liên quan với loại hình kết cấu của câu và ngược lại. Câu tường thuật về chủng loại thường có vị ngữ do thể từ đảm nhiệm; những câu khác thường có vị ngữ do vị từ đảm nhiệm. Nhờ có hệ thống trợ từ rất phong phú, câu tường thuật trong tiếng Việt có nhiều phương tiện biểu thị sắc thái tình cảm hay thái độ, v.” (Nguyễn Kim Thản 1997, tr.595) Hay trong sách “Ngữ pháp tiếng Việt”, tác giả Đỗ Thị Kim Liên đã cho rằng “Câu trần thuật dùng để xác nhận về sự tồn tại của sự vật hay các đặc trưng, hoạt động, trạng thái của sự vật.
Đây là loại câi được dùng rộng rãi nhất. Về hình thức biểu hiện, loại này thường có ngữ điệu kết thúc câu đi xuống, trên chữ viết có dấu chấm (. Về nội dung, có thể có hai nhóm: câu tường thuật khẳng định và câu tường thuật phủ định.” (Đỗ Thị Kim Liên 1999, tr131.) Từ những định nghĩa trên của các tác giả về câu tường thuật (câu kể, câu trần thuật), ta có đúc kết như sau: Câu tường thuật (câu kể, câu trần thuật), là loại câu phổ biến và được dùng để kể, xác nhận hoặc mô tả chi tiết cho người nghe biết về một sự vật, hiện 9 tượng, đối tượng nào đó mà không cần người nghe phải đáp lại. Câu tường thuật là phương tiện phổ biến nhất và cơ bản nhất để thể hiện tư duy trong giao tiếp.
Về phân loại có thể chia làm hai loại chính: câu tường thuật phủ định và câu tường thuật khẳng định. Ví dụ: - (1a) Lúc bấy giờ trời đầy mù từ ngoài biển bay vào. (Nguyễn Minh Châu 1985) - (1b) Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi. Phân loại câu tường thuật trong tiếng Việt Căn cứ vào sách nghiên cứu về câu tường thuật của các tác giả như: Hoàng Trọng Phiến, Nguyễn Kim Thản, Diệp Quang Ban thì câu tường thuật được chia thành hai loại: câu tường thuật khẳng định và câu tường thuật phủ định.
Câu tường thuật khẳng định Câu tường thuật khẳng định nhằm khẳng định sự vật, hiện tượng, đối tượng là có tồn tại. Về mặt hình thức, những câu nói bình thường không có ý nghĩa phủ định chính là những câu khẳng định và không chứa các từ phủ định như: không, chưa, chẳng, chẳng phải,. Trong câu khẳng định thường có các từ nhấn mạnh khẳng định như: có, khẳng định, cũng, thì, là, cái này, tin chắc, chắc chắn,. Ví dụ: - (2a) Tôi chắc chắn lần này tôi sẽ thành công.
- (2b) Thằng bé Heng lớn lên cũng ít nói như những người dân làng Xô-man này. Từ những ví dụ trên, câu tường thuật với mục đích kể về sự vật, hiện tượng, con người, nhưng không chứa bất kì yếu tố, từ ngữ phủ định nào, thì đó chính là câu tường thuật khẳng định. 10 Tuy nhiên, cũng tồn tại những dạng câu khẳng định nhưng chứa yếu tố phủ định. Tác giả (Hoàng Trọng Phiến 1980) đã đề cập đến cấu tạo ngữ pháp của câu khẳng định trong quyển Ngữ pháp tiếng Việt thông qua bảng dưới đây: <Bảng 1.1>: Cấu tạo ngữ pháp của câu khẳng định không thể không C không khỏi không V không phải là không không C không V không phải C không V Ví dụ: - (3a) Anh ấy nói không thể không đến đây.
→ Anh ấy nói nhất định đến đây. - (3b) Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương. → cả rừng xà nu hàng vạn cây, cây nào cũng bị thương. Thông qua ví dụ (3a) và (3b), chúng ta có thể thấy trong câu chứa yếu tố phủ định, tuy nhiên, nghĩa của câu lại là câu khẳng định.
Với cấu trúc này, phương pháp “phủ định của phủ định” đã giúp cho câu tồn tại dưới dạng khẳng định nhưng ở mức độ cao hơn. Hơn nữa, đối tượng trong câu cũng được nhấn mạnh nhiều hơn. Trong ngôn ngữ nói hàng ngày, câu khẳng định còn chứa các trợ từ nhấn mạnh như: đây, đấy, ấy, vậy, đấy à,. Ví dụ: - (4a) Ngày mai là đám cưới của cô ấy rồi đấy.
- (4b) Thầy giáo bảo học bài ngày mai kiểm tra ấy. Ngoài ra, có loại câu khẳng định chứa các từ như: không, chẳng, không phải, chẳng phải. Ví dụ: - (5a) Chẳng rành rành ra trước mắt rồi còn gì. 11 - (5b) Mặc như thế chẳng phải là đẹp hơn nhiều hay sao.
Tóm lại, câu tường thuật khẳng định được sử dụng dưới nhiều hình thức nhưng vẫn hướng đến mục đích xác nhận sự tồn tại của sự vật, hiện tượng, đối tượng mà câu đang nhắm đến. Câu tường thuật phủ định Câu tường thuật phủ định là câu xác nhận sự vắng mặt của sự vật, hiện tượng, đối tượng trong câu. Ví dụ: - (6a) Tôi không thấy anh ấy ở đâu cả. - (6b) Tôi không nhớ chuyện đó.
Về mặt hình thức câu phủ định cơ bản chứa các từ như: không, chưa, chẳng, chả, chưa hề, chẳng hề, không hề, không bao giờ. Những từ này được đặt phía trước các thành phần bị phủ định để biểu thị ý nghĩa tường thuật. Ví dụ: - (7a) Mẹ dỗ dành mãi mà nó vẫn chẳng chịu ăn. - (7b) Ngày Mai mất và Tnú ra đi, nó còn là một cô bé không có áo mặc, đêm lạnh không ngủ, đốt lửa ngồi cho đến gà gáy rồi đi giã gạo thay chị.
→ ví dụ là câu tường thuật, kể về nhân vật trong câu, sự phủ định tồn tại chỉ ra rằng nhân vật không có áo để mặc, đêm không ngủ. Trong câu phủ định người ta lại tiếp tục phân thành hai loại là: câu phủ định bộ phận và câu phủ định toàn bộ. Câu phủ định bộ phận Câu phủ định bộ phận hiểu đơn giản là câu có nghĩa phủ định chỉ liên quan đến một bộ phận trong câu. Trong câu này, từ phủ định thường sẽ đứng trước thành phần cần phủ định, có thể là vị ngữ, trạng ngữ hoặc bổ ngữ,.
Ví dụ: 12 - (8a) Từ năm nào, cô không nhớ, cũng không ai nhớ. - (8b) Hắn định nói với thị một vài câu rõ tình tứ mà chẳng biết nói thế nào. Câu phủ định toàn bộ Câu phủ định toàn bộ là câu có ý nghĩa phủ định bao trùm lên toàn bộ câu nội dụng của câu. Trong câu phủ định toàn bộ, từ phủ định thường đứng trước bộ phận chính của câu.
Ví dụ: - (9a) Không có ai ở đấy cả. - (9b) Ông ấy không bao giờ chịu khuất phục. Ngoài ra thì câu phủ định còn được thêm các từ để mang ý nghĩa phủ định tuyệt đối: Thêm những từ như: hoàn toàn, tuyệt đối, nhất định. - (10b) Tôi hoàn toàn không biết.
Đặt các từ như: không, chẳng, không (chẳng) bao giờ, không (chẳng) đời nào, không (chẳng) ai (hay: người nào), không (chẳng) hề.vào vị trí vị ngữ hoặc ở đầu câu. Ví dụ: - (11a) Chẳng có ai muốn con mình phải sống khổ sở đâu. - (11b) Không đời nào tôi xin lỗi trước đâu. Thêm các từ bổ ngữ cho vị ngữ như: một tí (gì), một chút (nào), gì sốt (cả),.
Ví dụ: 13 - (12a) Tôi không uống rượu dù chỉ một chút. - (12b) Không nên thử dù chỉ một lần.