Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản của gia cầm 1. Cấu tạo cơ quan sinh dục của gia cầm * Cơ quan sinh dục cái của gia cầm Gồm một buồng và ống dẫn trứng.
Buồng trứng có chức năng tạo lòng đỏ, còn ống dẫn trứng có chức năng tiết ra lòng trắng đặc, lòng trắng loãng, màng vỏ, vỏ mỏng và lớp keo mỡ bao ngoài vỏ trứng. Thời gian trứng lưu lại trong ống dẫn trứng từ 20 – 24 giờ. + Buồng trứng: Buồng trứng nằm ở phía trái xoang bụng, thấp hơn thận trái, kích thước và hình dạng buồng trứng khác nhau tuỳ theo tuổi gia cầm. Gà con 10 ngày tuổi buồng trứng có hình phiến mỏng, kích thước từ 1 – 2mm, khối lượng 0,03g đến 4 tháng tuổi buồng trứng có dạng hình thoi, khối lượng 2,66g, đến thời kỳ đẻ trứng thì buồng trứng giống như chùm nho với khối lượng 55g, ở thời kỳ gà nghỉ đẻ thay lông thì khối lượng buồng trứng giảm xuống 5g.
Theo Nguyễn Duy Hoan và cs, (1998) [11] xác định ở giai đoạn phôi thai, hai phía phải và trái của gà mái đều có buồng trứng phát triển nhưng sau khi nở thì buồng trứng bên phải tiêu biến chỉ còn lại buồng trứng bên trái. Sự phát triển của mỗi tế bào trứng gồm 3 giai đoạn: Thời kỳ tăng sinh của các tế bào trứng bắt đầu xảy ra ngay trong thời kỳ phát triển phôi thai và kết thúc ở giai đoạn gà con nở ra. Thời kỳ sinh trưởng gồm có: Thời kỳ sinh trưởng nhỏ: Từ khi gia cầm nở ra đến khi thành thục về sinh dục. n 4 Thời kỳ sinh trưởng lớn: Chỉ từ 4 – 13 ngày, đây là thời kỳ tích luỹ lớn nhất 90% - 95% khối lượng trứng được tích luỹ trong giai đoạn này.
Vào thời kỳ đẻ đường kính của tế bào trứng 35 - 45mm Số lượng tế bào trứng ở gà mái có thể đến hàng triệu. Trong thời gian phát triển, lúc đầu các tế bào trứng được bao bọc bởi một tầng tế bào không có liên kết với biểu bì phát sinh, tầng tế bào này phát triển trở thành nhiều tầng và sự tạo thành tiến tới bề mặt buồng trứng, cấu tạo này gọi là follicun. Bên trong follicun có một khoảng hở chứa đầy dịch, bên ngoài follicun giống như một cái túi. Trong thời kỳ đẻ trứng, nhiều follicun chín dần làm thay đổi hình dạng buồng trứng trông giống như chùm nho.
Sau thời kỳ đẻ trứng, buồng trứng trở về hình dạng ban đầu, các follicun trứng vỡ ra, quả trứng chín chuyển ra ngoài cùng với dịch của follicun và rơi vào phễu ống dẫn trứng. Sự rụng trứng đầu tiên báo hiệu sự thành thục sinh dục, đó là quá trình đi ra của tế bào trứng chín. Từ buồng trứng, bình thường sự rụng trứng chỉ xảy ra một lần trong một ngày, có những trường hợp đặc biệt có thể hai hoặc ba tế bào cùng rụng một lúc, trường hợp quả trứng của ngày hôm trước đẻ sau 4 giờ chiều thì phải sang ngày hôm sau mới xảy ra quá trình rụng trứng. Tính chu kỳ của sự rụng trứng phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc, lứa tuổi, trạng thái sinh lý của gia cầm.
Song điều chung nhất là sự rụng trứng của gia cầm chịu ảnh hưởng của thân kinh và thể dịch, (Nguyễn Duy Hoan và cs, 1998 [11]). + Ống dẫn trứng: Là một ống dài có nhiều khúc cuộn, tại đây xảy ra quá trình thụ tinh và hình thành trứng của gia cầm. Tuỳ thuộc vào hình dạng và chức năng của ống dẫn trứng mà người ta chia thành các loại khác nhau. Kích thước và hình dạng ống dẫn trứng thay đổi theo lứa tuổi và các hoạt động của cơ quan sinh dục.
Trước khi đẻ quả trứng đầu tiên ống dẫn trứng dài ra, khối n 5 lượng tăng lên rất nhiều và nó chia thành từng phần khác nhau: Ở gà không đẻ trứng (trưởng thành) chiều dài ống dẫn trứng: 1-18cm. Ở gà đẻ trứng (lúc trưởng thành) chiều dài ống dẫn trứng: 55-68cm. Ở thời kỳ thay lông chiều dài ống dẫn trứng chỉ còn khoảng 7cm. Theo đặc điểm hình thái và chức năng sinh lý ống dẫn trứng chia thành 5 phần: loa kèn, phần tiết lòng trắng, phần eo, tử cung, âm đạo.
- Loa kèn: Bề mặt niêm mạc của loa kèn thì không có ống tuyến chỉ phần cổ phễu có ống tuyến tiết ra một phần lòng trắng đặc và hình thành dây chằng lòng đỏ. Tại đây trứng được thụ tinh nếu gặp tinh trùng, trứng chỉ dừng ở đây từ 15-20 phút. - Phần tiết lòng trắng: Là bộ phận dài nhất của ống dẫn trứng. Ở thời kỳ gia cầm đẻ với tỷ lệ cao, chúng có thể dài tới 20 - 30cm, niêm mạc phần này có nhiều tuyến hình ống giống như cổ phễu để tiết ra lòng trắng đặc hình thành dây chằng lòng đỏ và tiết ra lòng trắng loãng, trứng dừng ở đây khoảng 3 giờ.
- Phần eo: Là phần hẹp hơn của ống dẫn trứng, dài khoảng 8cm, các tuyến ở đây tiết ra một phần lòng trắng và tiết ra một chất hạt hình thành nên tấm màng dưới vỏ gồm 2 lớp, 2 lớp này tách nhau tại đầu lớn của vỏ trứng hình thành nên buồng khí. Các dung dịch muối và nước có thể thấm qua màng này đi vào lòng trắng. Trứng dừng ở đây 60 – 70 phút. - Tử cung: Là phần tiếp theo của quá trình tạo vỏ, là phần mở to ra tạo thành tử cung dài 8 – 12cm, tuyến vách tử cung tiết ra một chất dịch lỏng, chất dịch thẩm thấu qua màng vỏ đi vào trong lòng trắng làm cho tăng khối lượng lòng trắng, mặt khác một số tuyến ở tử cung tiết ra một chất dịch hình thành nên vỏ cứng, quá trình hình thành của vỏ diễn ra chập chạp.
Trứng dừng lại ở đây khá lâu từ 18-20 giờ. - Âm đạo: Là đoạn cuối cùng của ống dẫn trứng, là cửa ngõ để trứng ra ngoài cơ thể. Giữa âm đạo và tử cung có một van cơ dài 17-20cm, niêm mạc nhăn nhưng không có các tuyến hình ống. Tại chính mép biểu mô của âm đạo n 6 tiết ra một chất dịch tham gia hình thành lớp màng keo ở trên vỏ.
Trứng đi qua phần âm đạo rất nhanh. * Những trường hợp trứng dị hình: - Trứng không có lòng đỏ: Do trong cơ thể có những tế bào chết rơi vào loa kèn và ống dẫn trứng không phân biệt được vì vậy vẫn có quá trình tạo trứng và hình thành trứng nhỏ. - Trứng 2 lòng đỏ: Do 2 trứng cùng rụng một thời điểm hoặc cách nhau không quá 20 phút vì vậy hình thành nên quả trứng rất to. - Trứng trong trứng: Thường ít gặp, do bị kích động đột ngột một quả trứng hoàn chỉnh bị ống dẫn trứng co lại gây ra nhu động ngược lên phía trên gặp tế bào trứng mới rụng, sẽ nằm cùng với lòng đỏ của trứng mới bên ngoài được bao bọc bằng lòng trắng và vỏ cứng.
Ngoài ra còn có trứng méo mó, không vỏ do thiếu khoáng, vitamin D, do co bóp của ống dẫn trứng… 1. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản của gia cầm Để duy trì và phát triển đàn gia cầm thì khả năng sinh sản là yếu tố cơ bản quyết định đến quy mô, năng suất và hiệu quả sản xuất đối với gia cầm. Sản phẩm chủ yếu là thịt và trứng, trong đó sản phẩm trứng được coi là hướng sản xuất chính của gà hướng trứng. Còn với gà hướng thịt (cũng như gà hướng trứng) khả năng sinh sản hay khả năng đẻ trứng quyết định đến sự nhân đàn di truyền giống mở rộng quy mô đàn gia cầm.
Từ đó, nó quyết định tới năng suất, sản lượng sản phẩm của chăn nuôi gia cầm. Con người chú trọng đến sinh sản của gia cầm, vì không những chức năng đó liên quan đến sự sinh tồn của loài cầm điểu mà từ đó con người mới có số lượng đông đảo gia cầm để sử dụng 2 sản phẩm quan trọng trứng và thịt. Sinh sản là chỉ tiêu cần được quan tâm trong công tác giống nói chung và công tác giống gia cầm nói riêng. Ở các loại gia cầm khác nhau thì đặc điểm sinh sản cũng khác nhau rõ rệt.
n 7 Để đánh giá khả năng sản xuất trứng của gia cầm người ta thường dùng các chỉ tiêu sau: * Tuổi đẻ đầu Đó là tuổi bắt đầu hoạt động sinh dục và có khả năng tham gia quá trình sinh sản. Đối với gia cầm mái tuổi thành thục sinh dục là tuổi bắt đầu đẻ quả trứng đầu tiên. Đây là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến năng suất trứng. Đối với một đàn gà cùng lứa tuổi thì tuổi đẻ quả trứng đầu tiên là thời điểm tại đó đàn gà đạt tỷ lệ đẻ 5 %.
Tuổi đẻ trứng đầu phụ thuộc vào chế độ nuôi dưỡng các yếu tố môi trường đặc biệt là thời gian chiếu sáng; thời gian chiếu sáng dài sẽ thúc đẩy gia cầm đẻ sớm. Tuổi đẻ đầu sớm hay muộn liên quan đến khối lượng cơ thể ở một thời điểm nhất định. Những gia cầm thuộc giống có khối lượng cơ thể nhỏ, tuổi thành thục sinh dục thường sớm hơn những gia cầm có khối lượng cơ thể lớn. Trong cùng một giống, cơ thể nào được chăm sóc, nuôi dưỡng tốt, điều kiện thời tiết khí hậu và độ dài ngày chiếu sáng phù hợp sẽ có tuổi thành thục sinh dục sớm hơn.
Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh tuổi thành thục sinh dục sớm là trội so với tuổi thành thục sinh dục muộn. * Năng suất trứng Năng suất trứng hay sản lượng trứng là số lượng trứng của một gia cầm mái đẻ ra trên một đơn vị thời gian. Đối với gia cầm thì đây là chỉ tiêu quan trọng, nó phản ánh trạng thái sinh lý và khả năng hoạt động của hệ sinh dục. Năng suất trứng là một tính trạng số lượng nên nó phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh.
Năng suất trứng phụ thuộc nhiều vào loài, giống, hướng sản xuất, mùa vụ và đặc điểm của cá thể. Năng suất trứng được đánh giá qua sự phụ thuộc vào cường độ đẻ và thời gian kéo dài sự đẻ. * Tỷ lệ đẻ Đây là chỉ tiêu đánh giá sức đẻ trứng của đàn gia cầm. Đỉnh cao của tỷ lệ đẻ cho biết mối tương quan với năng suất trứng.
Tỷ lệ đẻ cao, thời gian đẻ kéo n 8 dài trong thời kỳ sinh sản chứng tỏ là giống tốt. Chế độ chăm sóc nuôi dưỡng đảm bảo thì năng suất sinh sản sẽ cao và ngược lại.