Tổng quan luận án

Công trình khoa học "Sự thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975" được tác giả Lê Thị Hằng thực hiện tại Trường Đại học Vinh năm 2016, dưới sự hướng dẫn của tập thể người hướng dẫn khoa học gồm PGS.TS. Đinh Trí Dũng và PGS.TS. Phan Huy Dũng. Luận án thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam, mã số 62.21, tiếp cận đối tượng từ hướng nghiên cứu định tính của chuyên ngành văn học, kết hợp giữa lý luận thi pháp học, tự sự học và lịch sử văn học.

Về tính cấp thiết, tác giả luận án xác định sau năm 1975, lịch sử dân tộc bước sang giai đoạn thời bình. Đặc biệt, dấu mốc Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 1987) đã mở ra một nhận thức mới về vị trí, chức năng của văn nghệ, tạo điều kiện cho văn nghệ sĩ tham gia vào quá trình dân chủ hóa đời sống tinh thần. Tiểu thuyết, với tư cách là hình thức tự sự quy mô lớn, có năng lực bao quát hiện thực sâu rộng và thâm nhập vào đời tư, nội tâm của con người. Khoảng trống nghiên cứu được chỉ rõ: trước thời điểm luận án triển khai, giới nghiên cứu chủ yếu xem xét các sáng tác sau năm 1975 ở cấp độ các tác giả, tác phẩm riêng lẻ, hoặc khảo sát từng phương diện biệt lập như loại hình nhân vật hay kỹ thuật trần thuật. Luận án giải quyết yêu cầu xây dựng một hệ thống lý giải toàn diện, gắn kết chặt chẽ giữa sự biến đổi trong quan niệm về số phận con người với hệ thống phương thức, phương tiện nghệ thuật của thể loại tiểu thuyết.

Mục đích nghiên cứu của luận án là chỉ ra những đổi mới trong việc thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975, xem đây là phương diện cốt lõi của sự đổi mới tư duy nghệ thuật thể loại, từ đó làm rõ quy luật vận động của văn xuôi thời kỳ chuyển từ chiến tranh sang hòa bình.

Nhiệm vụ nghiên cứu được phân định thành ba nội dung cụ thể:

  1. Tìm hiểu những tiền đề xã hội, thẩm mỹ của việc quan tâm thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975.
  2. Khảo sát những biểu hiện cụ thể của sự thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975, so sánh sự thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 với tiểu thuyết Việt Nam trước 1975, nhất là giai đoạn 1945 - 1975.
  3. Nêu và phân tích hệ thống phương thức, phương tiện nghệ thuật gắn với việc thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975.

Đối tượng nghiên cứu là sự thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975. Phạm vi khảo sát tập trung vào các tiểu thuyết xuất bản từ sau năm 1975, trọng tâm từ năm 1986 đến năm 2013. Luận án ưu tiên các tác phẩm đạt giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam, Bộ Quốc phòng và các tác phẩm tạo dư luận xã hội rộng rãi.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được tổ chức theo tiến trình lịch sử và cấp độ thể loại:

Về nghiên cứu văn học hiện đại trước năm 1975, các giáo trình và chuyên luận được tổng thuật bao gồm: Giáo trình Văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945 của nhóm tác giả Phan Cự Đệ, Trần Đình Hượu, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành Khung, Lê Chí Dũng, Hà Văn Đức; Văn học Việt Nam hiện đại (từ đầu thế kỷ XX đến 1945) của Trần Đăng Suyền và Nguyễn Văn Long; chuyên luận Quan niệm về con người trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn của Lê Thị Dục Tú; công trình Quan niệm nghệ thuật về con người và những đặc điểm của sự thể hiện con người trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 của Nguyễn Văn Long (xác lập ba chặng: con người tập thể 1945 - 1954, con người mới 1954 - 1964, con người sử thi 1964 - 1975); chuyên luận Con người trong truyện ngắn Việt Nam 1945 - 1975 (bộ phận văn học cách mạng) của Phùng Ngọc Kiếm.

Về nghiên cứu văn xuôi sau năm 1975, tác giả điểm lại các cột mốc lý luận: tiểu luận Viết về chiến tranh (1978) và Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa (1987) của Nguyễn Minh Châu; bài viết Về một đặc điểm của văn học và nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua (1979) của Hoàng Ngọc Hiến; Đề cương đề dẫn thảo luận ở Hội nghị đảng viên bàn về sáng tác văn học (tháng 6/1979) do Nguyên Ngọc chấp bút. Bên cạnh đó là các công trình của giới nghiên cứu: Trần Đình Sử với Con người trong văn học Việt Nam sau 1945 và Mấy vấn đề trong quan niệm con người của văn học Việt Nam thế kỷ XX; Lê Ngọc Trà với Vấn đề con người trong văn học; Huỳnh Như Phương với Văn xuôi những năm 80 và vấn đề dân chủ hóa nền văn học; Bùi Việt Thắng với Văn xuôi gần đây và quan niệm con người; Tôn Phương Lan với Một vài suy nghĩ về con người trong văn xuôi thời kỳ đổi mới; Vũ Tuấn Anh với Đổi mới văn học vì sự phát triển; Nguyễn Thị Bình với luận án Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật sau 1975 - khảo sát trên nét lớn (1996) và chuyên luận Văn xuôi Việt Nam 1975 - 1985 những đổi mới cơ bản; Nguyễn Văn Kha với Đổi mới quan niệm về con người trong truyện Việt Nam 1975 - 2000.

Về các nghiên cứu chuyên sâu về tiểu thuyết sau năm 1975, luận án điểm lại các bài viết và công trình: Nguyễn Bích Thu (Ý thức cách tân trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975), Mai Hải Oanh (Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, 2009), Bùi Việt Thắng (Tiểu thuyết đương đại, 2005), Nguyễn Hải Hà và Nguyễn Thị Bình (Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn xuôi Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám), Trần Cương (1999), Nguyễn Thị Kim Tiến, cùng các luận án của Nguyễn Thị Thanh Nga (2006), Nguyễn Thị Thanh Xuân, và các luận văn của Lê Thị Bích Hạnh (2004), Phạm Thị Thu Thủy (2003), Bùi Thị Hương (2004), Nguyễn Thị Ngọc Diệp (2003). Các diễn đàn tranh luận văn học về Thân phận của tình yêu (Bảo Ninh), Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Vòng tròn bội bạc, Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng) cũng được tổng kết.

Khoảng trống học thuật mà luận án lựa chọn giải quyết là: phần lớn các nghiên cứu trước tiếp cận số phận con người ở phạm vi đề tài, tác gia riêng lẻ hoặc tách rời nội dung phản ánh với phương thức thể hiện. Luận án định vị là công trình khảo cứu có hệ thống, đồng bộ từ tiền đề thẩm mỹ, các bình diện nội dung cho đến các công cụ thi pháp thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết thời kỳ này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên các khái niệm và khung phân tích thuộc thi pháp học và tự sự học:

  • Khái niệm trung tâm: "Quan niệm nghệ thuật về con người" theo định nghĩa của Trần Đình Sử, được hiểu là nguyên tắc cảm nhận, cách cắt nghĩa, đánh giá và lý giải của nhà văn về phẩm chất, số phận và tương lai của con người được vật chất hóa qua hệ thống hình thức nghệ thuật của tác phẩm.
  • Khung lý thuyết hỗ trợ: Luận án vận dụng quan điểm triết học Mác về bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội; lý thuyết phân tâm học của Sigmund Freud về vô thức, tiềm thức và bản năng tính dục; triết học hiện sinh về bản thể nhân vị, thân phận cô đơn và sự lựa chọn cá nhân; lý thuyết liên văn bản và các quan điểm tự sự học hiện đại về điểm nhìn trần thuật, kết cấu đa thanh và dòng ý thức.

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm bốn phương pháp chính:

  • Phương pháp lịch sử: Đặt tác phẩm và sự biến chuyển của thể loại vào bối cảnh xã hội, văn hóa Việt Nam từ sau năm 1975, phân tích quá trình kế thừa và đổi mới qua các mốc lịch sử.
  • Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Xem xét tiểu thuyết thể hiện số phận con người như một chỉnh thể nghệ thuật, nằm trong hệ thống vận động chung của thể loại tiểu thuyết và nền văn xuôi đương đại.
  • Phương pháp so sánh - đối chiếu: Thực hiện đối sánh đồng đại và lịch đại giữa tiểu thuyết sau năm 1975 với giai đoạn 1945 - 1975, đồng thời đối chiếu với tiểu thuyết đô thị miền Nam giai đoạn 1954 - 1975 và một số tác phẩm văn học thế giới (Phía Tây không có gì lạ của Erich Maria Remarque, Trăm năm cô đơn của Gabriel García Márquez).
  • Phương pháp liên ngành: Kết hợp các góc nhìn từ văn học, triết học, tâm lý học và xã hội học để phân tích cấu trúc nhân cách nhân vật. Các thao tác nghiên cứu bổ trợ gồm có miêu tả, phân tích, tổng hợp văn bản.

Nguồn tư liệu khảo sát chính của luận án gồm 33 tiểu thuyết tiêu biểu:

STT Tên tác phẩm Tác giả Năm xuất bản
1 Miền cháy Nguyễn Minh Châu 1977
2 Nắng đồng bằng Chu Lai 1977
3 Trong cơn gió lốc Khuất Quang Thụy 1978
4 Đất trắng Nguyễn Trọng Oánh 1979, 1984
5 Năm 1975, họ đã sống như thế Nguyễn Trí Huân 1979
6 Họ cùng thời với những ai Thái Bá Lợi 1981
7 Mùa lá rụng trong vườn Ma Văn Kháng 1985
8 Thời xa vắng Lê Lựu 1986
9 Thân phận của tình yêu (Nỗi buồn chiến tranh) Bảo Ninh 1987 (1991)
10 Vòng tròn bội bạc Chu Lai 1987
11 Chim én bay Nguyễn Trí Huân 1988
12 Đám cưới không có giấy giá thú Ma Văn Kháng 1989
13 Góc tăm tối cuối cùng Khuất Quang Thụy 1989
14 Thiên sứ Phạm Thị Hoài 1989
15 Ăn mày dĩ vãng Chu Lai 1991
16 Ba lần và một lần Chu Lai 1999
17 Không phải trò đùa Khuất Quang Thụy 1999
18 Trí nhớ suy tàn Nguyễn Bình Phương 2000
19 Đại tá không biết đùa Lê Lựu 2001
20 Những bức tường lửa Khuất Quang Thụy 2004
21 Thiên thần sám hối Tạ Duy Anh 2004
22 Thoạt kỳ thủy Nguyễn Bình Phương 2005
23 Luật đời và cha con Nguyễn Bắc Sơn 2005
24 Dòng sông mía Đào Thắng 2006
25 Giàn thiêu Võ Thị Hảo 2007
26 Hồ Quý Ly Nguyễn Xuân Khánh 2007
27 Tiểu thuyết đàn bà Lý Lan 2008
28 Cõi người rung chuông tận thế Hồ Anh Thái 2008
29 Chinatown, Vân Vy Thuận 2009
30 Quyên Nguyễn Văn Thọ 2009
31 Đức Phật, nàng Savitri và tôi Hồ Anh Thái 2010
32 Gia đình bé mọn Dạ Ngân 2010
33 Những đứa trẻ chết già Nguyễn Bình Phương 2013

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài theo bốn cụm vấn đề: nghiên cứu sự thể hiện số phận con người trong văn xuôi Việt Nam hiện đại nói chung; nghiên cứu văn học trước năm 1975; nghiên cứu văn xuôi sau năm 1975; và nghiên cứu chuyên sâu về thể loại tiểu thuyết sau năm 1975. Luận án phân tích các luận điểm của những nhà nghiên cứu tiền bối, khẳng định rằng các công trình đi trước đã làm rõ quá trình chuyển dịch từ quan niệm con người tập thể, con người sử thi sang con người cá nhân, đời thường và tâm linh. Tuy nhiên, các công trình chủ yếu tiếp cận theo từng lát cắt riêng rẽ. Tiểu kết chương 1 xác định việc luận án triển khai nghiên cứu chuyên biệt và toàn diện về số phận con người trong tiểu thuyết sau năm 1975 là sự tiếp nối cần thiết trên cơ sở kế thừa tư liệu của những người đi trước.

Chương 2: Những tiền đề xã hội, thẩm mỹ của việc quan tâm thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975

Chương 2 trình bày các tiền đề lý luận và thực tiễn chi phối sự đổi mới thể loại.

  • Về bản chất thể loại: Tiểu thuyết là hình thức tự sự có khả năng tái hiện hiện thực đời sống và khám phá chiều sâu tâm hồn con người. Thể loại này gắn liền với các bước chuyển trong cách quan niệm về con người của triết học và văn học qua các thời kỳ.
  • Về diện mạo trước năm 1975: Văn học giai đoạn 1945 - 1975 phục vụ mục tiêu đấu tranh giải phóng dân tộc, tập trung tô đậm "những lựa chọn cao cả", xây dựng hình tượng con người quần chúng, anh hùng cách mạng (như trong Đất nước đứng lên, Người mẹ cầm súng, Hòn Đất, Dấu chân người lính). Trong giai đoạn này, ý thức cá nhân và đời sống riêng tư thường nhường chỗ cho nghĩa vụ cộng đồng.
  • Về các tiền đề sau năm 1975: Sự chuyển đổi sang thời bình, đường lối Đổi mới văn nghệ theo tinh thần Nghị quyết 05, sự mở rộng giao lưu văn hóa quốc tế đã tạo ra không khí sáng tác dân chủ.
  • Về các nguồn ảnh hưởng thẩm mỹ:
    • Luận án chỉ ra sự tiếp nhận kinh nghiệm từ tiểu thuyết hiện đại thế giới (kỹ thuật dòng ý thức, yếu tố kỳ ảo từ Franz Kafka, Gabriel García Márquez; các công trình lý thuyết của Alain Robbe-Grillet, Milan Kundera, Jean-Paul Sartre, Roland Barthes, Yuri Lotman, Jean-François Lyotard).
    • Luận án phân tích ảnh hưởng từ bộ phận văn học đô thị miền Nam giai đoạn 1954 - 1975 (với các tác giả như Võ Phiến, Duyên Anh, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Thị Hoàng, Túy Hồng, Thụy Vũ, Lệ Hằng) trên hai phương diện: cảm thức hiện sinh (con người cô đơn, phi lý, lưu đày, nổi loạn) và sự giải phóng bản năng tính dục dưới góc nhìn phân tâm học.
    • Luận án nhấn mạnh sự tự ý thức của chính các nhà văn về giới hạn của nền văn học trước năm 1975, thúc đẩy nỗ lực giải quyết ba "món nợ": món nợ với hiện thực dân tộc, món nợ với nghệ thuật văn chương và món nợ với chính khát vọng sáng tạo của bản thân.

Chương 3: Những bình diện chủ yếu của số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975

Chương 3 đi sâu khảo sát nội dung cụ thể của số phận con người qua ba nhóm bình diện:

  • Số phận con người giữa những lựa chọn khó khăn của đời sống chiến tranh:
    • Mối quan hệ éo le giữa số phận dân tộc và số phận con người: Chiến tranh không chỉ có niềm vui chiến thắng mà còn để lại những vết thương tinh thần, sự mất mát hạnh phúc cá nhân, bi kịch của những người lính trở về (Nỗi buồn chiến tranh, Ăn mày dĩ vãng, Đất trắng).
    • Cái giá của những lựa chọn vươn theo các chuẩn mực phi thường: Việc ép mình vào các khuôn mẫu lý tưởng tạo nên những chấn thương nội tâm kéo dài (Thời xa vắng).
    • Sự tiêu mòn nhân tính trong chiến tranh và vì chiến tranh: Sự khốc liệt của bom đạn và hoàn cảnh sinh tử làm bộc lộ những góc khuất, sự tha hóa hoặc nỗi day dứt lương tri của con người ở cả hai phía chiến tuyến.
  • Số phận con người giữa muôn mặt phức tạp của đời thường:
    • Bi kịch của việc kém thích ứng: Sự lạc lõng, bơ vơ của những cá nhân mang nếp nghĩ cũ hoặc phẩm chất thời chiến khi bước vào cơ chế thị trường đầy biến động (Mùa lá rụng trong vườn, Ăn mày dĩ vãng).
    • Bi kịch của việc thích ứng vội vàng mà thiếu hụt căn bản văn hóa: Sự tha hóa đạo đức, chạy theo đồng tiền và lối sống thực dụng cơ hội (Đám cưới không có giấy giá thú, Luật đời và cha con).
    • Bi kịch của sự nhầm lẫn trong việc tìm kiếm và xác lập bảng giá trị mới: Những khủng hoảng niềm tin, sự mất phương hướng giữa các giá trị đạo đức truyền thống và chuẩn mực hiện đại.
  • Số phận con người trong việc khẳng định những gì thuộc về bản thể:
    • Đấu tranh khẳng định cá tính: Khát vọng thoát khỏi sự quy chuẩn hóa của tập thể để được sống là chính mình với bản lĩnh riêng (Thời xa vắng, Gia đình bé mọn).
    • Khẳng định những nhu cầu bản năng: Khám phá phương diện thể xác, tính dục, những ẩn ức vô thức như một phần tất yếu của nhân tính (Thoạt kỳ thủy, các tác phẩm của Hồ Anh Thái, Đỗ Phấn, Nguyễn Bình Phương).
    • Khẳng định những lựa chọn riêng về mặt tư tưởng: Thể hiện hành trình tự ý thức, tư duy độc lập và cái nhìn đa chiều trước các vấn đề lịch sử, xã hội (Hồ Quý Ly, Giàn thiêu).

Chương 4: Các phương thức, phương tiện thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975

Chương 4 khảo sát các công cụ nghệ thuật được nhà văn sử dụng để biểu đạt số phận con người:

  • Nghệ thuật tổ chức xung đột:
    • Tư duy mới về xung đột: Chuyển từ xung đột mang tính chất đối kháng xã hội (ta - địch, thiện - ác rạch ròi mang tính sử thi) sang xung đột phức tạp trong đời sống thế sự và đời tư.
    • Tô đậm xung đột giữa con người với hoàn cảnh: Mối quan hệ căng thẳng giữa cá nhân với những ràng buộc định kiến xã hội, gia đình và môi trường sinh tồn.
    • Xoáy sâu vào xung đột nội tâm: Mâu thuẫn giữa các bộ phận cấu thành nhân cách, sự giằng xé giữa phần con và phần người, giữa lý trí và bản năng, giữa lương tâm và dục vọng.
  • Nghệ thuật xây dựng nhân vật:
    • Biệt loại hóa nhân vật: Xây dựng các kiểu nhân vật đặc thù thay cho kiểu nhân vật loại hình hay điển hình hóa trước đây, bao gồm nhân vật tự ý thức, nhân vật bi kịch, nhân vật tha hóa, nhân vật dị biệt và nhân vật bản năng.
    • Nhấn mạnh sự chưa hoàn kết của số phận nhân vật: Nhân vật không có kết cục đóng khung hay định đoạt tuyệt đối mà luôn ở trạng thái vận động, bỏ ngỏ các khả năng phát triển trong dòng đời.
    • Quan tâm tới tính phiêu lưu và trải nghiệm: Đặt nhân vật vào các tình huống thử thách tính cách, hành trình xê dịch, đối diện với những biến cố bất trắc để nhận thức lại chính mình.
  • Nghệ thuật tổ chức hệ thống điểm nhìn, giọng điệu và ngôn ngữ:
    • Đa dạng hóa hệ thống điểm nhìn: Kết hợp điểm nhìn bên ngoài với điểm nhìn bên trong, luân chuyển linh hoạt giữa ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba, đan cài điểm nhìn của người trần thuật với điểm nhìn của chính nhân vật.
    • Phối trí các sắc thái giọng điệu: Giảm bớt giọng điệu ngợi ca, trang nghiêm sử thi; gia tăng giọng điệu triết luận, suy tư, đối thoại, trần thuật khách quan kết hợp với giọng điệu xót thương, mỉa mai hoặc tự vấn.
    • Khai thác tính đa thanh của ngôn ngữ: Ngôn ngữ tiểu thuyết tiếp nhận lời ăn tiếng nói đời thường, kết hợp ngôn ngữ độc thoại nội tâm, dòng ý thức và sự tương tác giữa nhiều luồng ý thức khác nhau trong cùng một tác phẩm.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án góp phần làm sáng tỏ quy luật vận động của thể loại tiểu thuyết Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi mô hình văn học từ định hướng sử thi sang định hướng nhân bản và dân chủ. Nghiên cứu xác lập cơ sở lý thuyết khẳng định rằng việc đổi mới cách nhìn nhận về con người là nhân tố cốt lõi chi phối sự biến chuyển của toàn bộ thi pháp thể loại, từ cấu trúc xung đột, phương thức xây dựng nhân vật đến hệ thống trần thuật.

Về mặt thực tiễn, luận án cung cấp một hệ thống phân tích chi tiết và bao quát về sự thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết sau năm 1975 trên cả hai bình diện: nội dung phản ánh (số phận trong chiến tranh, đời thường và bản thể) cùng hình thức biểu hiện (xung đột, nhân vật, điểm nhìn, giọng điệu, ngôn ngữ). Công trình ghi nhận và hệ thống hóa những nỗ lực tìm tòi của các cây bút văn xuôi tiêu biểu từ sau năm 1975, khẳng định diện mạo mới của tiểu thuyết đương đại trong việc tái hiện con người ở tính cá thể, sự phức tạp và chưa hoàn kết.

Về mặt giải pháp và ứng dụng, luận án cung cấp căn cứ khoa học cho việc xác lập các tiêu chí đánh giá tác phẩm văn học từ góc nhìn nhân văn; hỗ trợ tư liệu và khung lý thuyết phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu tiểu thuyết sau năm 1975 trong chương trình giáo dục phổ thông và đại học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, do dung lượng và số lượng tiểu thuyết ra đời trong giai đoạn từ sau năm 1975 đến nay rất lớn, luận án chỉ giới hạn phạm vi khảo sát ở 33 tác phẩm tiêu biểu đạt giải thưởng hoặc gây chú ý trong dư luận văn học. Một số tác phẩm tiểu thuyết xuất bản trong những năm gần thời điểm hoàn thành luận án (2014 - 2016) hoặc các thể nghiệm tiểu thuyết mạng, tiểu thuyết thể loại chưa được bao quát triệt để.

Về hướng nghiên cứu tiếp, văn bản gợi mở khả năng mở rộng việc nghiên cứu sự thể hiện số phận con người sang các thể loại văn xuôi khác như truyện ngắn, ký, hoặc đi sâu phân tích đối sánh xuyên văn hóa giữa tiểu thuyết Việt Nam với các nền văn học khu vực và thế giới trong giai đoạn đương đại.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học: Cung cấp khung phân tích về thi pháp nhân vật, thi pháp trần thuật và bức tranh toàn cảnh về tiến trình vận động của tiểu thuyết thời kỳ Đổi mới.
  • Giáo viên ngữ văn tại các trường trung học phổ thông: Cung cấp cơ sở lý luận và các phân tích văn bản cụ thể về các tác giả, tác phẩm có mặt trong chương trình giảng dạy (như Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Bảo Ninh).
  • Các nhà nghiên cứu và quản lý văn hóa: Cung cấp luận cứ khoa học về sự tương tác giữa chính sách văn nghệ (như Nghị quyết 05) với thực tiễn sáng tác, hỗ trợ việc đánh giá các khuynh hướng vận động của đời sống văn học đương đại.
  • Các phần đáng tham khảo trực tiếp gồm: hệ thống phân loại ba bình diện số phận con người (Chương 3) và các phân tích thi pháp về kỹ thuật trần thuật, điểm nhìn, giọng điệu (Chương 4).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án chỉ ra điểm khác biệt cốt lõi trong quan niệm nghệ thuật về con người giữa tiểu thuyết trước 1975 và sau 1975 là gì? Trước năm 1975, văn học cách mạng tập trung vào con người tập thể, con người công dân và con người sử thi; cá nhân gắn liền với nghĩa vụ cộng đồng, được xây dựng theo xu hướng hoàn thiện, lý tưởng hóa. Sau năm 1975, đặc biệt từ năm 1986, tiểu thuyết chuyển hướng sang con người đời tư - thế sự, con người cá nhân với đầy đủ sự phức tạp, bí ẩn, mâu thuẫn nội tâm, được nhìn nhận từ góc độ bản thể và đời sống bản năng.

2. Tiểu thuyết đô thị miền Nam 1954 - 1975 tác động đến tiểu thuyết sau 1986 ở những điểm nào theo phân tích của luận án? Luận án chỉ ra sự ảnh hưởng ở hai phương diện chính: về mặt quan niệm, đó là sự tiếp nhận cảm thức hiện sinh (con người cô đơn, phi lý, lưu đày, nổi loạn) và sự khám phá đời sống bản năng, tính dục theo lý thuyết phân tâm học; về mặt kỹ thuật, đó là việc sử dụng kỹ thuật dòng ý thức, trần thuật phân mảnh, cốt truyện đa tuyến và lối viết giải quy phạm.

3. Khái niệm "sự chưa hoàn kết của số phận nhân vật" trong Chương 4 được luận án luận giải như thế nào? Tác giả vận dụng quan điểm thi pháp học hiện đại để chỉ ra rằng nhân vật tiểu thuyết sau năm 1975 không còn bị đóng khung trong những số phận có kết thúc dứt khoát hay được định đoạt sẵn theo công thức luân lý. Số phận nhân vật được mở ra với nhiều khả năng, luôn ở trạng thái vận động, đối thoại và chưa ngã ngũ, phản ánh sự bất định của đời sống thực tế.

4. Vì sao xung đột nội tâm được luận án xem là bước chuyển biến quan trọng của nghệ thuật tổ chức xung đột sau 1975? Trước năm 1975, xung đột chủ yếu mang tính đối kháng bên ngoài giữa ta và địch, giữa cách mạng và phản cách mạng. Sau năm 1975, các nhà tiểu thuyết chuyển trọng tâm vào xung đột giữa các bộ phận cấu thành nhân cách: sự giằng co giữa trách nhiệm xã hội và nhu cầu hạnh phúc cá nhân, giữa phẩm giá và sự tha hóa đời thường, giữa phần ý thức và những ẩn ức bản năng.

Kết luận

Luận án của tác giả Lê Thị Hằng là công trình nghiên cứu chuyên sâu về sự vận động của thể loại tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1975 dưới lăng kính thể hiện số phận con người. Bằng việc kết hợp phương pháp lịch sử, cấu trúc - hệ thống, so sánh - đối chiếu và liên ngành, luận án đã làm rõ các tiền đề xã hội - thẩm mỹ, hệ thống hóa ba bình diện nội dung cốt lõi của số phận và phân tích các phương thức nghệ thuật thể hiện. Công trình khẳng định sự chuyển dịch quan niệm nghệ thuật về con người là nhân tố trung tâm thúc đẩy quá trình dân chủ hóa và cách tân thi pháp của tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ Đổi mới.