Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu “Chuyển biến kinh tế, xã hội Sài Gòn từ năm 1965 đến năm 1975” của nghiên cứu sinh Phan Hải Vân được thực hiện tại Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (2019), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Văn Khánh và PGS. Trần Ngọc Long. Luận án thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số: 62 22 03 13), tiếp cận theo hướng lịch sử - đô thị kết hợp phân tích kinh tế và xã hội học.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền. Dưới sự can thiệp của Hoa Kỳ, nền Đệ nhất Cộng hòa được thành lập ở miền Nam vào năm 1955. Trong hơn 20 năm tồn tại của chính quyền Việt Nam Cộng hòa (VNCH), kinh tế và xã hội miền Nam trải qua nhiều biến đổi sâu sắc. Các biến chuyển này diễn ra tập trung và rõ nét nhất tại Đô thành Sài Gòn – trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và là nơi đặt các cơ quan đầu não điều hành bộ máy chiến tranh.

Trong giai đoạn 1965–1975, khi quân viễn chinh Mỹ trực tiếp tham chiến tại miền Nam, kinh tế và xã hội Sài Gòn chịu tác động trực tiếp từ viện trợ, chiến tranh và cơ chế kinh tế thị trường mang tính chất tư bản chủ nghĩa. Mặc dù đã có nhiều công trình trong và ngoài nước nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam cũng như lịch sử miền Nam thời kỳ 1954–1975, các vấn đề chuyển biến kinh tế, xã hội của riêng Đô thành Sài Gòn trong giai đoạn 1965–1975 vẫn chưa được nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện và có hệ thống. Việc thực hiện luận án nhằm khỏa lấp khoảng trống học thuật này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là phục dựng lại một cách cơ bản quá trình vận động, chuyển biến kinh tế và xã hội Sài Gòn từ năm 1965 đến năm 1975 dưới chế độ VNCH; đồng thời rút ra các nhận xét lịch sử và gợi mở kinh nghiệm cho việc xây dựng, phát triển Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Sưu tầm, tập hợp, hệ thống hóa và tổng quan tình hình nghiên cứu của các tài liệu liên quan đến đề tài, đặc biệt là các tài liệu về kinh tế, xã hội Sài Gòn trong giai đoạn 1965–1975.
  2. Phân tích làm sáng tỏ nội dung của sự chuyển biến kinh tế, xã hội Sài Gòn qua các giai đoạn lịch sử cụ thể từ năm 1965 đến năm 1975 trên các phương diện: công nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải, dân số, giáo dục, y tế, văn hóa.
  3. Phân tích làm rõ những yếu tố tác động và hệ quả của chuyển biến kinh tế, xã hội của đô thị Sài Gòn dưới thời VNCH từ năm 1965 đến năm 1975.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Sự chuyển biến kinh tế, xã hội của Đô thành Sài Gòn dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa từ năm 1965 đến năm 1975.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các phương diện kinh tế chủ yếu (công nghiệp, thương nghiệp, ngân hàng, dịch vụ, tiền tệ, giao thông vận tải) và các phương diện xã hội trọng tâm (dân số, lực lượng lao động, cơ cấu giai tầng xã hội, giáo dục, y tế, đời sống văn hóa, xuất bản, báo chí).
  • Phạm vi thời gian: Giới hạn trong 10 năm (1965–1975). Mốc mở đầu (1965) gắn với sự kiện quân đội Mỹ và đồng minh đổ quân trực tiếp tham chiến tại miền Nam; mốc kết thúc là ngày 30/4/1975 khi chế độ VNCH sụp đổ. Luận án chia thành hai phân kỳ nghiên cứu:
    • Giai đoạn 1965–1968: Giai đoạn quân viễn chinh Mỹ hiện diện trực tiếp, viện trợ ồ ạt và cuộc chiến tranh cục bộ tác động mạnh mẽ đến diện mạo đô thị.
    • Giai đoạn 1969–1975: Giai đoạn Mỹ triển khai chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", từng bước rút quân, giảm dần viện trợ, dẫn đến những biến động kinh tế và xáo trộn xã hội phức tạp.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát trong phạm vi địa giới hành chính của Đô thành Sài Gòn thời VNCH gồm 11 quận (được đánh số từ Quận 1 đến Quận 11), không bao trùm toàn bộ 24 quận, huyện của Thành phố Hồ Chí Minh mở rộng sau năm 1975.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây được điểm lại

Trong Chương 1, tác giả đã phân loại và khảo sát hệ thống tài liệu nghiên cứu liên quan theo các nhóm:

1. Các công trình nghiên cứu về kinh tế, xã hội miền Nam của học giả trong nước:

  • Giai đoạn trước năm 1975: Phan Đắc Lực (1964) với Vị trí của tư bản lũng đoạn nước ngoài trong nền kinh tế miền Nam Việt Nam; Hồ Thới Sang (1971) với giáo trình Kinh tế Việt Nam và cuốn Kinh tế Việt Nam, quá khứ và tương lai (1974); Vũ Quốc Thúc và Lilienthal (1971) với Kế hoạch phát triển kinh tế miền Nam Việt Nam mười năm sau chiến tranh; Nguyễn Văn Hảo (1972) với Lãnh vực kinh tế (1955 - 1972); Nguyễn Văn Ngôn (1972) với Kinh tế Việt Nam Cộng hòa; Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam - Viện Kinh tế (1974) với Tài liệu tham khảo về tình hình kinh tế Miền Nam Việt Nam.
  • Giai đoạn sau năm 1975: Lê Khoa (1979) với Tình hình kinh tế Miền Nam 1955-1975 qua các chỉ tiêu thống kê; Lữ Phương (1981) với Cuộc xâm lăng về văn hoá và tư tưởng của đế quốc Mỹ tại miền Nam Việt Nam; Trần Trọng Đăng Đàn (1988, 1991) với 2 tập Văn học thực dân mới Mỹ ở miền Nam Việt Nam những năm 1954-1975; Đặng Phong (1991) với 21 năm viện trợ kinh tế Mỹ ở Việt Nam và bộ sách Lịch sử kinh tế miền Nam Việt Nam 1945-2000 (Tập 2, 2005); Lâm Quang Huyên, Trần Du Lịch, Trần Anh Tuấn (1991) với Một số đặc điểm kinh tế của miền Nam Việt Nam; Trần Văn Thọ chủ biên (2000) với Kinh tế Việt Nam 1955 - 2000: Tính toán mới, phân tích mới; Võ Văn Sen (2005) với Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở miền Nam Việt Nam (1954-1975); Nguyễn Đình Lê chủ biên (2019) với Biến chuyển xã hội miền Nam Việt Nam 1954-1975.

2. Các công trình nghiên cứu của học giả nước ngoài:

  • Phan Quang Đán (1973) với The Republic of Vietnam’s Environment and People; Robert Warren Stevens với Hy vọng hão huyền, thực tế phũ phàng: Những hậu quả kinh tế của cuộc chiến tranh Việt Nam; Douglas C. Dacy (1986) với Foreign aid, war and economic development South Viet Nam 1955-1975; Nguyễn Anh Tuấn (1987) với South Vietnam trial and experience - a challenge for development; Gabriel Kolko (2003) với Giải phẫu một cuộc chiến tranh: Việt Nam, Mỹ và kinh nghiệm lịch sử hiện đại; Vo M. Nghia (2011) với A History of Saigon; Keith W. Taylor (2015) với Voices from the Second Republic of South Vietnam (1967-1975).

3. Các công trình nghiên cứu chuyên sâu về Sài Gòn:

  • Lĩnh vực kinh tế: Dương Đức Dũng (1992) nghiên cứu về giới tư sản qua Những gương mặt tỷ phú Sài Gòn trước năm 1975; Huỳnh Thị Ngọc Tuyết (1993) về Tiểu thủ công nghiệp vùng Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định và phụ cận từ năm 1954-1975; Nguyễn Đức Hòa (1997) với luận văn Thương cảng Sài Gòn 1954 - 1975; Nguyễn Thái An và Nguyễn Văn Kích (2005) với 100 năm phát triển công nghiệp Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh.
  • Lĩnh vực xã hội, văn hóa, hạ tầng và hành chính: Trần Văn Giàu chủ biên (1987) với Địa chí văn hoá thành phố Hồ Chí Minh; Hồ Hữu Nhựt (1999) với Lịch sử giáo dục Sài Gòn thành phố Hồ Chí Minh (1698-1998); Đỗ Hồng Ngọc chủ biên (2001) với Y tế Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh 300 năm (1698-1998); Nguyễn Đình Đầu (2007) với Địa lý Gia định - Sài Gòn thành phố Hồ Chí Minh; Hà Minh Hồng cùng nhóm tác giả (2007) với 100 câu hỏi đáp về Gia Định - Sài Gòn Thành phố Hồ Chí Minh (Lịch sử Sài Gòn thời kỳ 1945-1975); Trần Hữu Quang (2012) với Hạ tầng đô thị Sài Gòn buổi đầu.
  • Các luận văn tại Học viện Quốc gia Hành chánh Sài Gòn trước 1975: Trần Đình Chi (1971) về thiếu niên bụi đời; Ngô Văn Hoàn (1971) về hiện trạng xóm lao động; Nguyễn Thị Hoàng Nam (1972) và Trần Quốc Tiến (1972) về phát triển và thiết kế đô thành; Vũ Văn An (1970), Trương Ngọc Minh (1972), Lê Thị Ngọc Sương (1973), Nguyễn Thị Thi (1973) về cơ cấu hành chính đô thành; Nguyễn Hoàng (1970) về hệ thống nước; Đoàn Phi Loan (1971) về phi cảng Tân Sơn Nhất; Nguyễn Thị Kiều Tiên (1971) về phương tiện chuyên chở; Lâm Kỳ Hiệp (1970) về gia cư; Lê Bá Thịnh (1970) về nạn hành khất; Lê Thị Sâm (1970) về các tổ chức từ thiện tôn giáo; nghiên cứu của Vũ Thị Thu Thanh (2012) qua tạp chí Bách khoa.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tác giả chỉ ra rằng các công trình đi trước chủ yếu tiếp cận kinh tế miền Nam ở tầm vĩ mô hoặc phân tích đơn tuyến, riêng rẽ từng ngành (chỉ kinh tế, hoặc chỉ xã hội, giáo dục, hành chính). Nhiều công trình thiếu số liệu chi tiết hoặc chưa có điều kiện tiếp cận các phông lưu trữ gốc của chính quyền VNCH và hồ sơ viện trợ Hoa Kỳ. Bên cạnh đó, một số công trình có xu hướng nhìn nhận thiên lệch (hoặc quy kết chính trị nặng nề, hoặc ca ngợi một chiều mà bỏ qua bối cảnh chiến tranh). Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách phục dựng bức tranh chuyển biến kinh tế và xã hội Sài Gòn một cách liên ngành, toàn diện, đặt trong mối quan hệ hữu cơ với chiến tranh và viện trợ Mỹ giai đoạn 1965–1975.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khung phân tích

Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Khung phân tích được triển khai dưới góc độ lịch sử - đô thị, xem xét đô thị như một chỉnh thể vận động đa chiều gồm hạ tầng, kinh tế (công nghiệp, thương mại, dịch vụ, tài chính), tổ chức hành chính và cấu trúc xã hội (dân cư, phân tầng xã hội, y tế, giáo dục, văn hóa).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Tác giả kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành:

  • Phương pháp lịch sử: Tái hiện tiến trình vận động, các sự kiện, chính sách kinh tế - xã hội và số liệu theo trình tự thời gian liên tục từ năm 1965 đến năm 1975.
  • Phương pháp logic: Xâu chuỗi, phân tích bản chất các hiện tượng kinh tế - xã hội, làm rõ mối quan hệ nhân quả giữa cuộc chiến tranh, dòng viện trợ Hoa Kỳ và sự biến đổi cơ cấu đô thị Sài Gòn.
  • Phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp: Khai thác, xử lý và hệ thống hóa các chuỗi dữ liệu định lượng từ các niên giám thống kê, báo cáo của các Bộ, ngành thời VNCH.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu các chỉ số kinh tế, lưu lượng giao thông, sản lượng công nghiệp và biến động dân số giữa các mốc thời gian (trước 1965, 1965–1968, 1969–1975) để chỉ ra xu hướng biến chuyển.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Nghiên cứu sử dụng bốn khối tư liệu chính:

  1. Tài liệu lưu trữ gốc tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (TP.HCM): Gồm các phông tài liệu của Phủ Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa (1954–1963), Phủ Tổng thống Đệ nhị Cộng hòa (1967–1975), Phủ Thủ tướng VNCH (1954–1975), Cơ quan Viện trợ Quốc tế Hoa Kỳ (USAID), Bộ Tài chính, Hội đồng Kinh tế Xã hội, Bộ Y tế. Các văn bản quy phạm (Sắc dụ, Sắc lệnh, Nghị định), báo cáo an ninh trật tự, báo cáo kinh tế tài chính, tập bản tin Việt Tấn xã, niên giám thống kê và bản đồ quy hoạch.
  2. Tài liệu báo chí và tập san đương thời (1954–1975): Công báo VNCH, các chuyên san kinh tế (Tạp chí Chấn hưng kinh tế, Tập san Phòng Thương mại kỹ nghệ và kinh tế), các tạp chí văn hóa, xã hội, giáo dục (Bách khoa, Sáng tạo, Văn hóa Nguyệt san, Giáo dục Nguyệt san, Phát triển Xã hội, Tập san Nghiên cứu Hành chánh, Báo Chính luận).
  3. Hồi ký chính trị của các nhân chức đương thời: Hồi ký của Linh mục Cao Văn Luận (Bên giòng lịch sử 1940-1965), Hoành Linh - Đỗ Mậu (Tâm sự tướng lưu vong), Nguyễn Bá Cẩn (Đất nước tôi).
  4. Tài liệu từ các thư viện chuyên ngành: Thư viện Khoa học Tổng hợp TP.HCM, Thư viện Viện Nghiên cứu và Phát triển vùng Nam Bộ, Thư viện Viện Thông tin Khoa học Xã hội, Thư viện Quốc gia Việt Nam.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương này thực hiện tổng thuật có hệ thống các công trình nghiên cứu về kinh tế - xã hội miền Nam và Đô thành Sài Gòn giai đoạn 1954–1975 xuất bản trong và ngoài nước. Tác giả phân tích những kết quả đạt được về mặt tư liệu, phương pháp tiếp cận và nhận thức lịch sử; đồng thời chỉ rõ những vấn đề còn tồn tại như tính tản mạn của nguồn số liệu, sự vắng bóng của các công trình chuyên khảo liên ngành về chuyển biến đô thị Sài Gòn 1965–1975, từ đó xác định rõ các nhiệm vụ mà luận án cần đi sâu giải quyết.

Chương 2: Chuyển biến kinh tế, xã hội Sài Gòn từ năm 1965 đến năm 1968

Chương 2 trình bày hai nội dung lớn: (1) Khái quát điều kiện tự nhiên, địa giới hành chính và thực trạng kinh tế - xã hội Sài Gòn trước năm 1965; (2) Những chuyển biến cụ thể trong giai đoạn 1965–1968.

1. Vị trí địa lý và tiến trình tổ chức hành chính:

  • Sài Gòn nằm tại ngã tư đường quốc tế, kết nối đường biển qua thương cảng Sài Gòn (khoảng cách: Singapore 630 hải lý, Hồng Kông 934 hải lý, Tokyo 2.449 hải lý, Marseille 7.210 hải lý, San Francisco 7.730 hải lý).
  • Tiến trình phân chia hành chính Đô thành Sài Gòn qua các văn bản pháp lý:
    • Ngày 10/5/1948 (Nghị định 2383-MI/DAA): Khu Sài Gòn - Chợ Lớn chia làm 6 quận.
    • Ngày 27/12/1952 (Sắc lệnh 104-NV): Thành lập thêm Quận 7.
    • Ngày 22/10/1956 (Sắc lệnh 148-NV): Đổi tên thành "Đô thành Sài Gòn".
    • Ngày 27/3/1959 (Nghị định 110-NV): Chia Đô thành thành 8 quận (41 phường).
    • Năm 1966 (Sắc lệnh 100-SL/NV): Sáp nhập xã An Khánh (quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định) vào Quận 1, mở rộng diện tích đô thành lên 67,53 km².
    • Ngày 17/1/1967 (Sắc lệnh 9-SL/ĐUHC): Thành lập Quận 9 từ hai phường An Khánh và Thủ Thiêm.
    • Ngày 1/7/1969 (Sắc lệnh 073-SL/NV): Thành lập Quận 10 và Quận 11 từ các phường thuộc Quận 3, Quận 5 và Quận 6. Từ mốc này, Đô thành Sài Gòn duy trì cấu trúc 11 quận (gồm 60 phường) cho đến ngày 30/4/1975 với dân số đạt trên 1,8 triệu người.
  • Bộ máy quản lý đô thành đứng đầu bởi Đô trưởng (do Tổng thống bổ nhiệm), 2 Phó Đô trưởng, Hội đồng Đô thành (35–36 nghị viên do dân bầu), cùng hệ thống Quận trưởng, Phường trưởng, Khóm trưởng và Liên gia trưởng.

2. Thực trạng kinh tế Sài Gòn giai đoạn trước 1965:

  • Công nghiệp: Số lượng xí nghiệp kỹ nghệ và thương mại tăng từ 31.400 (1957) lên 34.654 (1960) và 41.500 (1964). Các ngành công nghiệp nhẹ phát triển: dệt chỉ sợi (năm 1960 có 880 xí nghiệp với 10.000 công nhân; năm 1961 có 1.420 cơ sở với 11.200 công nhân); chế biến lương thực (năm 1956 có 23 nhà máy; năm 1964 có 26 nhà máy xay xát); chế biến thực phẩm - đồ uống - thuốc lá (năm 1960 có 500 cơ sở, năm 1961 tăng lên 770 cơ sở); sản xuất đồ gỗ (hơn 600 cơ sở năm 1965); sản xuất giấy (năm 1960 có 450 xí nghiệp, năm 1966 có 669 xí nghiệp). Điện lực năm 1964 sản xuất 353.000 kWh (chiếm gần 80% tổng sản lượng điện miền Nam). Sản lượng nước sạch tăng từ 34.000 m³ (1960) lên 56.000 m³ (1964).
  • Thương nghiệp và tài chính: Xí nghiệp thương mại tăng từ 18.350 (1958) lên 23.290 (1961); xí nghiệp dịch vụ tăng từ 5.770 lên 7.500. Nhập khẩu qua cảng Sài Gòn tăng từ 1.331.000 tấn (1956) lên 2.115.000 tấn (1964). Từ năm 1964, hàng hóa Mỹ chiếm ưu thế tuyệt đối (3.000.000 tấn) so với Pháp (854.000 tấn). Trước 1965 có 18 ngân hàng Việt Nam và 7 ngân hàng nước ngoài. Tỷ giá chính thức 1 USD = 35,35 VNĐ được giữ ổn định giai đoạn 1956–1966, nhưng thị trường tự do tăng từ 73,50 VNĐ/USD (1961) lên 130,7 VNĐ/USD (1964).
  • Giao thông vận tải: Xây dựng Xa lộ Sài Gòn - Biên Hòa (1957–1961) dài 32 km với kinh phí 35 triệu USD, tốc độ thiết kế 80 km/h. Sân bay Tân Sơn Nhất năm 1962 nâng cấp đường băng dài 3.045 m, rộng 45 m; lượng hành khách vận chuyển tăng từ 65.852 lượt (1960) lên 136.030 lượt (1964). Tàu bè qua cảng Sài Gòn năm 1964 đạt 4.058 lượt, trong đó tàu Mỹ chiếm hơn 1,2 triệu tấn hàng hóa.
Chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật tại Sài Gòn Năm 1956 - 1960 Năm 1964 - 1965
Số xí nghiệp kỹ nghệ và thương mại 31.400 (1957) 41.500 (1964)
Cơ sở sản xuất dệt sợi 880 (1960) 1.420 (1961)
Sản lượng điện cung ứng tại Sài Gòn - 353.000 kWh (1964)
Sản lượng cấp nước sinh hoạt 34.000 m³ (1960) 56.000 m³ (1964)
Khối lượng hàng nhập khẩu qua cảng 1.331.000 tấn (1956) 2.115.000 tấn (1964)
Số xí nghiệp thương mại 18.350 (1958) 23.290 (1961)
Lượng khách qua phi cảng Tân Sơn Nhất 65.852 lượt (1960) 136.030 lượt (1964)
Tỷ giá USD trên thị trường tự do 73,50 VNĐ (1961) 130,70 VNĐ (1964)

3. Chuyển biến giai đoạn 1965–1968: Giai đoạn này ghi nhận sự biến động mạnh mẽ do sự đổ bộ trực tiếp của quân đội Mỹ và các nước đồng minh. Nền kinh tế Sài Gòn chuyển hướng phục vụ trực tiếp nhu cầu chiến tranh và dịch vụ căn cứ quân sự. Viện trợ ồ ạt kích thích nhập khẩu hàng tiêu dùng xa xỉ và nguyên liệu lắp ráp, khiến sản xuất nội địa bị chèn ép. Xã hội Sài Gòn biến động do dòng người tị nạn chiến tranh từ nông thôn dồn về, làm bùng nổ dân số đô thị, gia tăng các khu xóm lao động nghèo và xuất hiện nhiều hiện tượng tiêu cực xã hội.

Chương 3: Chuyển biến kinh tế, xã hội Sài Gòn từ năm 1969 đến năm 1975

Chương 3 khảo sát giai đoạn Mỹ chuyển giao gánh nặng chiến tranh cho quân đội VNCH:

  • Bối cảnh lịch sử mới và chính sách: Chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" đi liền với việc rút quân viễn chinh Mỹ và cắt giảm mạnh ngân sách viện trợ kinh tế, quân sự. Chính quyền VNCH phải thực hiện các cải cách kinh tế, điều chỉnh tỷ giá, cải tổ thuế khóa và thúc đẩy chương trình kinh tế tự lực tự cường trong tình trạng lạm phát leo thang.
  • Chuyển biến kinh tế: Hoạt động thương nghiệp và dịch vụ suy thoái nghiêm trọng do mất nguồn chi tiêu từ quân đội Mỹ. Khủng hoảng tài chính, tình trạng khan hiếm nguyên liệu ngoại nhập và giá cả sinh hoạt tăng cao gây đình trệ các ngành công nghiệp chế biến và tiểu thủ công nghiệp. Lưu lượng vận tải tại thương cảng Sài Gòn và phi cảng Tân Sơn Nhất có sự thay đổi theo chiều hướng suy giảm giao thương hàng hóa thương mại thông thường.
  • Chuyển biến xã hội: Cấu trúc giai tầng xã hội phân hóa sâu sắc. Đời sống của tầng lớp công chức, binh lính, người lao động nghèo và công nhân bị đe dọa bởi lạm phát và thất nghiệp. Hệ thống giáo dục đại học và trung học tại Sài Gòn mở rộng quy mô nhưng chịu áp lực từ các phong trào đấu tranh chính trị của học sinh, sinh viên. Y tế đô thị quá tải trước áp lực thương binh và dân nhập cư. Lĩnh vực báo chí, xuất bản và văn hóa phát triển phức tạp với sự xuất hiện của nhiều khuynh hướng tư tưởng đối lập trước bối cảnh chính trị biến động.

Chương 4: Một số nhận xét và đánh giá về chuyển biến kinh tế, xã hội Sài Gòn từ năm 1965 đến năm 1975

Tác giả đúc kết bốn luận điểm đánh giá mang tính khái quát:

  1. Sự phụ thuộc vào viện trợ Hoa Kỳ và chính sách của VNCH: Toàn bộ guồng máy kinh tế Sài Gòn vận hành dựa trên nguồn tài trợ hàng hóa (chương trình CIP) và viện trợ tài chính của Mỹ. Khi nguồn viện trợ dồi dào, đô thị có sự phồn vinh giả tạo; khi viện trợ bị cắt giảm, nền kinh tế lập tức rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng.
  2. Tính quy luật đồng nhịp với chiến tranh: Nhịp độ phát triển của kinh tế, biến động dân số và cơ cấu xã hội Sài Gòn không tuân theo các quy luật kinh tế đô thị thông thường mà biến chuyển theo quy mô, cường độ và diễn biến của cuộc chiến tranh.
  3. Đánh giá hệ quả tích cực: Tạo dựng được một số cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị hiện đại (mạng lưới đường bộ, mở rộng phi cảng Tân Sơn Nhất, hiện đại hóa thương cảng Sài Gòn, hạ tầng điện nước); xác lập các yếu tố của nền kinh tế thị trường, kỹ năng quản trị kinh doanh, phát triển hệ thống ngân hàng - tín dụng; hình thành đội ngũ trí thức, chuyên gia kỹ thuật và mở rộng mạng lưới giáo dục - y tế đô thị.
  4. Đánh giá hệ quả tiêu cực: Xây dựng nền kinh tế tiêu thụ, mất cân đối nghiêm trọng, phi sản xuất và phụ thuộc bên ngoài; đô thị hóa cưỡng bức do chiến tranh phá vỡ cấu trúc dân cư và gia đình truyền thống; gia tăng hố ngăn cách giàu nghèo, phát sinh các tệ nạn xã hội, xóm lao động ổ chuột và tình trạng thanh thiếu niên bụi đời tại đô thị.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về lý luận và nhận thức lịch sử

  • Luận án cung cấp nhận thức tương đối toàn diện, hệ thống và khách quan về sự biến chuyển kinh tế, xã hội của Đô thành Sài Gòn trong giai đoạn 1965–1975, khắc phục những đánh giá thiên lệch hoặc mang tính quy kết một chiều trước đây.
  • Đặt đô thị Sài Gòn trong bối cảnh lịch sử cụ thể để phân tích rõ cấu trúc, cơ chế vận hành và mối tương tác hai chiều giữa kinh tế và xã hội dưới sự tác động trực tiếp của chiến tranh và viện trợ nước ngoài.
  • Làm rõ bản chất của sự phồn vinh đô thị mang tính tiêu thụ, bóc tách cụ thể những thành tố tích cực về mặt kỹ thuật, quản trị đô thị song song với những hệ lụy tiêu cực về cơ cấu kinh tế - xã hội thời chiến.

Đóng góp về nguồn tư liệu

  • Khai thác và hệ thống hóa khối lượng lớn tài liệu gốc lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (các văn bản quy phạm pháp luật, hồ sơ hành chính, số liệu thống kê của các cơ quan chính quyền VNCH và cơ quan USAID) chưa từng được công bố hoặc chưa được sử dụng đầy đủ trước đây.
  • Bổ sung nguồn tư liệu báo chí, tập san chuyên ngành kinh tế, xã hội Sài Gòn thời kỳ 1954–1975 vào hệ thống tài liệu nghiên cứu lịch sử đô thị Việt Nam.

Kiến nghị và giá trị thực tiễn

  • Đúc rút những kinh nghiệm thực tiễn về công tác quản trị hành chính đô thị, quy hoạch hạ tầng giao thông, mạng lưới cấp thoát nước và điều tiết dịch vụ công cộng.
  • Cung cấp luận cứ lịch sử giúp các nhà hoạch định chính sách tham khảo trong quá trình xây dựng chiến lược phát triển kinh tế thị trường, giải quyết các vấn đề an sinh xã hội, nhà ở cho người thu nhập thấp và quản lý nhập cư đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Nghiên cứu chỉ giới hạn trong phạm vi không gian hành chính 11 quận của Đô thành Sài Gòn thời VNCH, chưa thể bao quát hết mối liên hệ hữu cơ với các vùng phụ cận thuộc tỉnh Gia Định (như Hóc Môn, Thủ Đức, Bình Chánh, Nhà Bè) và vành đai kinh tế Biên Hòa.
  • Nguồn tài liệu lưu trữ từ phía chính phủ Hoa Kỳ và các tổ chức quốc tế viện trợ cho Sài Gòn giai đoạn 1969–1975 chưa được khai thác toàn diện do điều kiện tiếp cận tư liệu quốc tế còn hạn chế.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng nghiên cứu so sánh mối tương quan phát triển giữa Sài Gòn và các đô thị khác ở miền Nam thời kỳ 1954–1975 (như Đà Nẵng, Cần Thơ, Nha Trang, Biên Hòa).
  • Đi sâu khảo sát tác động lâu dài của các chính sách kinh tế - xã hội thời kỳ này đối với giai đoạn tiếp quản và cải tạo xã hội chủ nghĩa tại Thành phố Hồ Chí Minh sau ngày 30/4/1975.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Luận án là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy các chuyên đề Lịch sử Việt Nam hiện đại, Lịch sử kinh tế Việt Nam, Lịch sử đô thị và Xã hội học đô thị. Đặc biệt, hệ thống thư mục và phương pháp xử lý tư liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II là chỉ dẫn hữu ích cho các nghiên cứu sinh chuyên ngành Sử học.
  • Đối với các nhà quản lý và hoạch định chính sách: Các dữ liệu lịch sử về quy hoạch hạ tầng, tổ chức bộ máy hành chính cơ sở (quận, phường, khóm), quản lý phương tiện giao thông cá nhân và bài học giải quyết tệ nạn xã hội đô thị có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác quản trị đô thị tại TP.HCM.

Câu hỏi thường gặp

1. Phạm vi không gian hành chính của Đô thành Sài Gòn được tác giả xác định trong luận án gồm những đơn vị nào?
Luận án giới hạn không gian nghiên cứu trong địa giới hành chính của Đô thành Sài Gòn gồm 11 quận (đánh số từ Quận 1 đến Quận 11), với 60 phường và 707 khóm (thời điểm năm 1965 là 8 quận, sau các sắc lệnh mở rộng năm 1966, 1967, 1969 tăng lên 11 quận), không bao gồm toàn bộ địa bàn 24 quận huyện của TP.HCM sau năm 1975.

2. Nguồn tư liệu lưu trữ gốc chủ đạo nào tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II được luận án khai thác?
Nghiên cứu khai thác các phông lưu trữ của chính quyền VNCH bao gồm: Phông Phủ Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa (1954–1963), Phủ Tổng thống Đệ nhị Cộng hòa (1967–1975), Phông Thủ tướng VNCH (1954–1975), Phông Cơ quan Viện trợ Quốc tế Hoa Kỳ (USAID), Phông Bộ Tài chính, Phông Hội đồng Kinh tế Xã hội và Phông Y tế.

3. Tác giả phân chia các mốc thời gian nghiên cứu chuyển biến kinh tế, xã hội Sài Gòn thành những giai đoạn nào?
Luận án phân kỳ 10 năm nghiên cứu thành hai giai đoạn: (1) Giai đoạn 1965–1968 gắn với sự tham chiến trực tiếp của quân đội Mỹ và viện trợ ồ ạt; (2) Giai đoạn 1969–1975 gắn với chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", quân đội Mỹ rút lui và viện trợ giảm dần cho đến khi chế độ kết thúc vào ngày 30/4/1975.

4. Trước năm 1965, cơ cấu giao thông và vận tải tại Sài Gòn ghi nhận những công trình và chỉ số tiêu biểu nào?
Tiêu biểu gồm: hoàn thành Xa lộ Sài Gòn - Biên Hòa (1957–1961) dài 32 km với kinh phí 35 triệu USD; nâng cấp phi cảng Tân Sơn Nhất năm 1962 với đường băng dài 3.045 m, rộng 45 m, vận chuyển 136.030 lượt khách (1964); thương cảng Sài Gòn năm 1964 đón 4.058 lượt tàu cập cảng, trong đó tàu Mỹ vận chuyển hơn 1,2 triệu tấn hàng hóa.

5. Nhân tố cốt lõi nào chi phối toàn bộ tiến trình chuyển biến kinh tế, xã hội Sài Gòn giai đoạn 1965–1975 theo nhận định của luận án?
Luận án kết luận chuyển biến kinh tế, xã hội Sài Gòn chịu sự chi phối quyết định bởi hai nhân tố chính: nguồn viện trợ kinh tế - quân sự của Hoa Kỳ và nhịp độ khốc liệt của cuộc chiến tranh. Nền kinh tế Sài Gòn phát triển mang tính phụ thuộc, tiêu thụ và vận động đồng nhịp với các bước leo thang hoặc xuống thang của chiến tranh.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Phan Hải Vân là công trình nghiên cứu chuyên khảo về sự chuyển biến kinh tế và xã hội của Đô thành Sài Gòn trong giai đoạn 1965–1975 dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa. Dựa trên khối tư liệu lưu trữ gốc phong phú tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II và hệ thống báo chí đương thời, tác giả đã tái hiện chân thực bức tranh đa diện về hạ tầng kỹ thuật, công thương nghiệp, đời sống cư dân và các chính sách đô thị. Công trình không chỉ cung cấp nhận thức lịch sử khách quan, khoa học về một giai đoạn lịch sử phức tạp mà còn để lại những bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn đối với công tác quy hoạch và phát triển đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.