Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu. Dựa trên các nghiên cứu trước đây đề tài xây dựng mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu và khái quát kết quả thu được từ bài nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây. Phần này giới thiệu các lập luận và những bằng chứng trong các nghiên cứu trước đây trên thế giới về tác động của sở hữu nhà quản trị đến doanh nghiệp.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Phần này sẽ trình bày về các mô hình và phương pháp nghiên cứu sử dụng trong bài cũng như các chi tiết về dữ liệu thu thập. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Đưa ra các kết quả nghiên cứu từ các phân tích.
Qua đó trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và một vài thảo luận về hạn chế của bài viết. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây Sở hữu nhà quản trị có tác động như thế nào đến giá trị doanh nghiệp là vấn đề đã được đề cập từ khá sớm, đến nay đã xuất hiện nhiều luận điểm nghiên cứu và tranh luận theo nhiều hướng khác nhau về mối quan hệ này. Một số các nghiên cứu tiêu biểu đề cập đến vấn đề này.
Các nghiên cứu về tác động của sở hữu của nhà quản trị đến giá trị doanh nghiệp. Berle và Means (1932) cho rằng khi nhà quản trị nắm giữ một phần nhỏ vốn cổ phần trong công ty, và các cổ đông là quá phân tán để thực hiện việc tối đa hóa giá trị doanh nghiệp, thì tài sản của công ty có thể được sử dụng để mang lại lợi ích cho nhà quản trị chứ không phải là các cổ đông. Các lợi ích của nhà quản trị có thể không chỉ là sự lười nhác, lảng tránh trách nhiệm và nhận nhiều thù lao mà còn bao gồm các mục tiêu không nhằm gia tăng giá trị doanh nghiệp như xây dựng trụ sở, chính sách tiền lương. Jensen và Meckling (1976) cho thấy rằng các chi phí làm sai lệch giá trị tối ưu của công ty sẽ giảm nếu sở hữu nhà quản trị tăng lên.
Khi cổ phần của nhà quản trị tăng lên họ sẽ phải trả một phần lớn hơn các chi phí này và ít có khả năng lãng phí tài sản công ty. Vì vậy giá trị thị trường của doanh nghiệp sẽ gia tăng nếu sở hữu của nhà quản trị tăng. Tuy nhiên, Demsetz (1983) và Fama và Jensen (1983) đã đưa ra một cách nhìn khác của việc sở hữu nhà quản trị. Các tác giả đã chỉ ra rằng, khi nhà quản trị nắm giữ một phần nhỏ cổ phiếu công ty, các quy tắc của thị trường (áp lực từ thị trường lao động (Fama(1980)), cơ chế thị trường (Hart (1983)), và hệ thống kiểm soát doanh nghiệp bên ngoài (Jensen và Ruback (1983)) có thể vẫn bắt buộc họ tối đa hóa giá trị doanh nghiệp.
Ngược lại, một nhà quản trị kiểm soát một phần lớn vốn cổ phần doanh nghiệp có đủ quyền biểu quyết, hay nói chung là đủ khả năng để đảm bảo vị trí của mình tại công ty với một mức lương hấp dẫn thì các quy tắc của thị trường không còn tác động mạnh mẽ tới họ nữa, điều này có thể tác động âm đến giá trị doanh nghiệp. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Một cách giải thích nổi bật cho vấn đề sở hữu cổ phần của nhà quản trị dựa trên ý tưởng lợi ích cá nhân của việc nắm giữ quyền điều hành (Jensen và Meckling (1976), Grossman và Hart (1980), Jensen (1986), và Morck, Shleifer và Vishny (1988)). Nếu một CEO sở hữu một phần đáng kể của cổ phiếu công ty của mình, CEO này có thể yên vị, cố thủ và cuối cùng là hưởng thụ những lợi ích riêng từ vị trí quyền lực của mình. Vì vậy, có thể là tư lợi khi CEO đầu tư vào công ty của mình với mục tiêu có được vào một vị trí an toàn.
Rõ ràng, nhu cầu từ lợi ích cá nhân của nhà quản trị không phải là tối ưu từ quan điểm của các cổ đông khác. Do đó, lợi ích cá nhân của quyền kiểm soát dự báo tác động âm lên của sở hữu nhà quản trị lên giá trị công ty. Một cách khác, Malmendier và Tate (2005) cho thấy các CEO thường dễ bị quá tự tin. Nếu họ quá tự tin đối với khả năng của mình trong việc gia tăng giá trị công ty, điều này có thể giải thích lý do tại sao họ đầu tư vào công ty của mình.
Tuy nhiên, CEO quá tự tin thường thực hiện các dự án có NPV nguy hiểm hoặc thậm chí âm, điều này không phù hợp với lợi ích của các cổ đông khác và làm giảm giá trị công ty. Các lập luận này đều dự báo một tác động âm của việc sở hữu của CEO đến giá trị công ty. Các nghiên cứu về tác động sở hữu của nhà quản trị đến hiệu quả hoạt động của công ty Một hướng nghiên cứu quan trọng trong việc xác định tác động của sở hữu nhà quản trị đến doanh nghiệp là nghiên cứu liệu sở hữu nhà quản trị có tác động như thế nào đến hiệu quả hoạt động của công ty. Kết quả từ các nghiên cứu nhằm xác định tác động của sở hữu nhà quản trị đến hiệu quả hoạt động công ty là không đồng nhất và đưa ra nhiều tranh cãi.
Các nghiên cứu tiêu biểu của hướng nghiên cứu này là: Morck, Shleifer và Vishny (1988) đã chứng minh rằng ở mức độ sở hữu cao của nhà quản trị có thể dẫn đến hiện tượng chủ quan của nhà quản trị khi họ nắm quyền kiểm soát công ty. Các tác giả đã sử dụng Tobin’s Q là thang đo hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và tỷ lệ sở hữu ban giám đốc làm thang đo cho mức độ sở hữu của TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 nhà quản trị. Morck, Shleifer và Vishny (1988) sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính piecewise (cho phép hệ số của biến sở hữu nhà quản trị bằng 5% và 25%) để hồi quy mối quan hệ này qua khảo sát 371 công ty trong 500 công ty trên bảng xếp hạng Fortune năm 1980 tại Hoa Kỳ. Kết quả mối quan hệ giữa sở hữu nhà quản trị với hiệu quả hoạt động công ty là đồng biến trong khoảng 0-5% và lớn hơn 25%; mối quan hệ này là nghịch biến khi sở hữu nhà quản trị trong khoảng 5-25%.
McConnell và Servaes (1990) cũng sử dụng Tobin’s Q là thang đo hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và tỷ lệ sở hữu ban giám đốc và nhân viên làm thang đo cho mức độ sở hữu của nhà quản trị. Các tác giả sử dụng hồi quy tuyến tính bậc 2 của tỷ lệ sở hữu nhà quản trị và cho ra kết quả là mối quan hệ giữa tỷ lệ sở hữu nhà quản trị và hiệu quả hoạt động công ty đồng biến khi tỷ lệ sở hữu nhà quản trị nhỏ hơn 40% và nghịch biến khi tỷ lệ sở hữu nhà quản trị lớn hơn 40%. Mẫu cho nghiên cứu này là 1173 công ty trên NYSE năm 1976 và 1093 công ty trên AMEX Hoa Kỳ. Kole (1995) đã giải thích sự khác nhau giữa Morck, Shleifer và Vishny (1988) và McConnell và Servaes (1990) là do sự khác nhau về quy mô công ty giữa hai nghiên cứu.
Mối quan hệ giữa sở hữu nhà quản trị với hiệu quả hoạt động công ty chuyển từ đồng biến sang nghịch biến ở các công ty có tỷ lệ sở hữu nhà quản trị cao đối với các công ty có quy mô nhỏ hơn, và ngược lại. Himmelberg, Hubbard, và Palia (1999) cho rằng cả hai yếu tố sở hữu nhà quản trị và hiệu quả hoạt động công ty đều chịu ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài và phần lớn các yếu tố giải thích sở hữu nhà quản trị điều rất phức tạp, không quan sát được. Khi kiểm soát các biến quan sát được và sử dụng hiệu ứng cố định (fixed-effects), tác giả không phát hiện được ảnh hưởng của sở hữu nhà quản trị lên hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Bài nghiên cứu cho rằng các nghiên cứu trước đây đã không kiểm soát được sự ảnh hưởng của các biến ngoại lai, vì thế những kết quả về ảnh hưởng của sở hữu nhà quản trị lên hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là không đáng tin cậy.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Zhou nhấn mạnh rằng nếu xét riêng từng công ty thì tỷ lệ sở hữu nhà quản trị của các công ty trong mẫu có sự thay đổi không đáng kể qua các năm.Vì vậy nếu sử dụng sự thay đổi của tỷ lệ sở hữu nhà quản trị và hiệu ứng cố định thì khó có thể phát hiện được tác động của sở hữu nhà quản trị lên hiệu quả hoạt động công ty. Ngoài ra Himmelberg, Hubbard, và Palia (1999) đã không đưa yếu tố quyền chọn mua cổ phiếu là một yếu tố quan trọng khích lệ nhà quản trị. Các nghiên cứu về tác động sở hữu của nhà quản trị đến tỷ suất sinh lợi trên thị trường chứng khoán Một hướng nghiên cứu mới trong nghiên cứu tác sở hữu nhà quản trị đến giá trị doanh nghiệp. Các học giả không xem xét tới mối quan hệ giữa sở hữu nhà quản trị và hiệu quả hoạt động công ty đo bằng Tobin Q mà nghiên cứu tác động của sở hữu nhà quản trị đến tỷ suất sinh lợi của công ty đó trên thị trường.
Trong nghiên cứu gần đây của Lilienfeld-Toal, Ulf von và Stefan Ruenzi (2014), các tác giả đã kiểm tra xem liệu có tác động sở hữu nhà quản trị đến tỷ suất sinh lợi trên thị trường chứng khoán Hoa Kỳ từ năm 1988-2010. Cụ thể các tác giả đã sử dụng tỷ lệ sở hữu cổ phiếu của của công ty mình của CEO đại diện cho tỷ lệ sở hữu của nhà quan trị và qua hai phương pháp nghiên cứu là phương pháp phân tích danh mục đầu tư và hồi quy đa biến để kiểm tra vấn đề này. o Phương pháp phân tích danh mục Lilienfeld-Toal, Ulf von và Stefan Ruenzi (2014) đã xây dựng danh mục đầu tư từ thông tin sở hữu của CEO với các tiêu chuẩn sở hữu ≥ 5%, ≥10% và 10%, 20% các công ty có sở hữu của CEO cao nhất. Các tác giả sử dụng mô hình 4 nhân tố của Carhart (1997), với việc điều chỉnh tỷ suất sinh lợi chịu tác đồng từ 3 yếu tố rủi ro hệ thống của Fama và French (1993) và nhân tố momentum Jegadeesh và Titman (1993) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 để kiểm định liệu có tỷ suất sinh lợi bất thường trên các danh mục có sở hữu của CEO cao hay không?