Đặt vấn đề và phần Kết luận, ở phần Nội dung đề tài được triển khai như sau: - Cơ sở khoa học của đề tài. - Một số biện pháp tổ chức các chủ đề hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp lớp 11 góp phần nâng cao kĩ năng kiểm soát cảm xúc cho học sinh tại trường THPT Huỳnh Thúc Kháng. - Kết quả đề tài. 6 PHẦN HAI: NỘI DUNG 1.
Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở lí luận về hoạt động trải nghiệm Trong Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể, hoạt động trải nghiệm là một trong những nội dung mới được ban hành và là hoạt động giáo dục bắt buộc của các cấp học. Theo tài liệu Chương trình Giáo dục phổ thông Hoạt động trải nghiệm (Dự thảo ngày 19/01/2018) của Bộ Giáo dục và Đào tạo, “hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục được thực hiện bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 12; ở tiểu học được gọi là Hoạt động trải nghiệm, ở trung học cơ sở và trung học phổ thông được gọi là Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp”. Sách Hướng dẫn tổ chức hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp theo chương trình giáo dục phổ thông mới của Nhà xuất bản Đại học Sư phạm do Đinh Thị Kim Thoa chủ biên nêu rõ: “hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục do giáo viên định hướng, thiết kế và hướng dẫn thực hiện; tạo cơ hội cho học sinh tiếp cận thực tế, thể nghiệm các cảm xúc tích cực; khai thác những kinh nghiệm đã có và huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng của các môn học để thực hiện những nhiệm vụ được giao hoặc giải quyết những vấn đề của thực tiễn đời sống nhà trường, gia đình, xã hội phù hợp với lứa tuổi”.
Ở cấp THPT, hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp hình thành cho học sinh thói quen tích cực trong cuộc sống hằng ngày, chăm chỉ lao động; thực hiện trách nhiệm của người học sinh ở nhà, ở trường và địa phương; biết tự đánh giá và tự điều chỉnh bản thân; hình thành những hành vi giao tiếp, ứng xử có văn hoá; có ý thức hợp tác nhóm và hình thành được năng lực giải quyết vấn đề, giúp học sinh củng cố thói quen tích cực, nền nếp trong học tập và sinh hoạt, hành vi giao tiếp ứng xử có văn hoá và tập trung hơn vào phát triển trách nhiệm cá nhân: trách nhiệm với bản thân, trách nhiệm với gia đình, cộng đồng; hình thành các giá trị của cá nhân theo chuẩn mực chung của xã hội; hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề trong cuộc sống; biết tổ chức công việc một cách khoa học; có hứng thú, hiểu biết về một số lĩnh vực nghề nghiệp, có ý thức rèn luyện những phẩm chất cần thiết của người lao động và lập được kế hoạch học tập, rèn luyện phù hợp với định hướng nghề nghiệp khi kết thúc giai đoạn giáo dục cơ bản. Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp ở cấp THPT giúp học sinh phát triển các phẩm chất, năng lực đã được hình thành ở cấp tiểu học và cấp trung học cơ sở. Kết thúc giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp, học sinh có khả năng thích ứng với các điều kiện sống, học tập và làm việc khác nhau; thích ứng với những thay đổi 7 của xã hội hiện đại; có khả năng tổ chức cuộc sống, công việc và quản lí bản thân; có khả năng phát triển hứng thú nghề nghiệp và ra quyết định lựa chọn được nghề nghiệp tương lai; xây dựng được kế hoạch rèn luyện đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp và trở thành người công dân có ích. Cơ sở lí luận về kĩ năng kiểm soát cảm xúc 1.
Khái niệm cảm xúc Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ định nghĩa cảm xúc là: “Rung động trong lòng do tiếp xúc với sự việc gì” (Từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa – thông tin, 2012, trang 102). Các nhà nghiên cứu về cảm xúc khẳng định “không có cảm xúc, cuộc sống của con người sẽ thiếu đi ý nghĩa, sự phong phú, niềm vui và sự kết nối với những người xung quanh” (Leahy, Tirch & Napolitano). Tác giả Nguyễn Quang Uẩn (1995) định nghĩa “cảm xúc là sự rung động của con người với các sự vật hiện tượng có liên quan tới nhu cầu và động cơ của họ”. Từ các quan điểm và định nghĩa trên, có thể hiểu một cách khái quát cảm xúc là tiếng nói bên trong giúp cho con người biết về nhu cầu, sự khó chịu, cái thúc đẩy con người thay đổi (như sự xấu hổ, buồn bã, tức giận) hay giúp chúng ta thoát khỏi tình huống khó khăn (sợ hãi, tức giận) hay sự thỏa mãn của con người (hạnh phúc, vui vẻ).
Các cảm xúc nền tảng là vui vẻ, đau khổ, sợ hãi, tức giận, ngạc nhiên, khinh bỉ. Ngoài các cảm xúc nền tảng trên, ngày nay, người ta cũng đề cao các cảm xúc khác như ghê tởm, xấu hổ, tội lỗi. Trên thực tế, các cảm xúc nền tảng này không bộc lộ một cách cực đoan, tách biệt mà thường có sự pha trộn nhau, trong đó có một hoặc một vài cảm xúc chiếm ưu thế, với cường độ và trường độ mạnh hơn. Vì vậy, việc nhận dạng được cảm xúc chủ đạo để điều chỉnh là yếu tố quan trọng trong việc quản lí cảm xúc bản thân.
Ngoài các cảm xúc nền tảng trên, còn xuất hiện các cảm xúc phức hợp như: lo âu, trầm uất, tình yêu, lòng thù địch. Với đối tượng học sinh, chúng tôi quy về hai dạng cảm xúc tích cực và tiêu cực, căn cứ vào mức độ thoả mãn hay không thoả mãn các nhu cầu, khoái cảm, thái độ hay giá trị của cá nhân. - Cảm xúc tích cực: là những rung động của cá nhân liên quan trực tiếp đến các kích thích thoả mãn nhu cầu, khoái cảm, thái độ hay giá trị của cá nhân; Tạo ra sự hưng phấn về thần kinh và tính tích cực tâm lí, mang lại hiệu quả cao trong hoạt động và giao tiếp; Giúp duy trì trạng thái lành mạnh của thể chất và tâm lí cá nhân; Là cơ sở để hình thành và phát triển các phẩm chất tâm lí tích cực như tình yêu, thái độ, niềm tin, thế giới quan tích cực của cá nhân. 8 Ví dụ: các cảm xúc tích cực thường thấy ở học sinh là: sự vui sướng, hạnh phúc, tự hào, ngạc nhiên, tình yêu,.
- Cảm xúc tiêu cực: là những rung động của cá nhân liên quan trực tiếp đến các kích thích không thoả mãn nhu cầu, khoái cảm, thái độ hay giá trị của cá nhân. Ví dụ: các cảm xúc tiêu cực thường thấy ở học sinh là: cảm giác không an toàn, bị tổn thương thể xác, tâm lí, nhân cách; suy sụp, các bệnh liên quan đến rối nhiễu tâm lí như stress, trầm cảm… Như vậy, tuỳ theo tính chất quan hệ của đối tượng hay của hoàn cảnh với sự thoả mãn nhu cầu, hứng thú của cá nhân mà có cảm xúc tích cực hay tiêu cực. Nếu đáp ứng nhu cầu hay phù hợp với sở thích của cá nhân, thì ở cá nhân xuất hiện xúc cảm tích cực, còn nếu không thoả mãn nhu cầu cá nhân hoặc gây ức chế thì ở cá nhân sẽ xuất hiện cảm xúc tiêu cực. Hiểu rõ điều này sẽ hỗ trợ giáo viên trong việc giúp học sinh biết cách kiểm soát, điều chỉnh và giải toả cảm xúc tiêu cực, duy trì cảm xúc tích cực có lợi cho môi trường học tập.
Khái niệm kỹ năng kiểm soát cảm xúc Tại sao con người lại có những phản ứng cảm xúc như vui sướng, phấn khởi, tức giận, đau khổ, lo lắng, sợ hãi, …? Có rất nhiều giả thuyết, lý do được đưa ra để trả lời câu hỏi đó nhưng nhìn chung có thể khái quát các nguyên nhân dẫn đến những cảm xúc ở con người là do: Trong cuộc sống xuất hiện những sự kiện, biến cố (thi cử, chuyển nơi ở, mất người thân, áp lực điểm số, bất bình đẳng giới, bạo lực học đường,…); không lường trước được các tình huống có thể xảy ra, trở nên bị động; mất kiểm soát đối với các kích thích, tác động từ bên ngoài; xung đột nội tâm và mâu thuẫn về các vai trò xã hội khác nhau; mục tiêu bị cản trở… Từ nhiều lí do như trên, con người có thể mất kiểm soát bản thân. Ở học sinh THPT, việc không kiểm soát được cảm xúc bản thân như thất vọng, sợ hãi, tức giận, … lâu ngày có thể dẫn đến những rối loạn về tâm lí, hành vi, nhân cách. Nhiều vụ việc xảy ra trong môi trường lớp học hay bên ngoài cổng trường liên quan đến các em đã cho thấy việc rèn luyện kĩ năng kiểm soát cảm xúc cho các em cần được quan tâm và đề cao. Đức Phật từng dạy: “Giữ sự bực tức trong người giống như đang cầm than nóng trên tay với mục đích ném vào người khác.
Ta sẽ chính là người đầu tiên bị đốt cháy”. Israelmore Ayivor cũng có câu nói: “Nụ cười có thể hàn gắn mọi thứ, còn sự tức giận có thể giết chết hàng triệu điều. Cái bắt tay có thể động viên hàng chục người, trong khi cái chỉ tay khiến hàng ngàn người rời xa bạn”. Để điều hòa được những cảm xúc đó cần có kĩ năng kiểm soát.
Kỹ năng kiểm soát cảm xúc là khả năng vận dụng kiến thức, kinh nghiệm, hiểu biết của bản thân để nhận diện, xử lý và điều chỉnh cảm xúc của bản thân một cách phù hợp với đối tượng và hoàn cảnh giao tiếp. 9 Kiểm soát cảm xúc là một quá trình, vì vậy, để hình thành kỹ năng kiểm soát cảm xúc đòi hỏi thời gian rèn luyện và những kỹ thuật, cách thức để đạt được mục đích mà con người mong muốn. Thông qua việc kiểm soát cảm xúc mà học sinh biết cách cư xử theo chuẩn mực giao tiếp cũng như thể hiện được hành vi đạo đức phù hợp. Thế nên, thật cần thiết nếu bản thân học sinh nhận ra mình đang ở mức báo động nào của khả năng kiểm soát cảm xúc.
Để làm được việc này thì học sinh càng cần tự mình tích cực khi giao tiếp và rèn luyện, nâng cao khả năng qua giáo dục. Chính học sinh cũng cần được hướng dẫn và hình thành kỹ năng kiểm soát cảm xúc để có thể: - Hạn chế những hành vi không mong muốn, hành vi vi phạm nội qui nhà trường như bắt nạt, tình trạng bạo lực học đường…; - Nâng cao khả năng giải quyết vấn đề, ứng phó với những tình huống có thể nảy sinh cảm xúc tiêu cực/âm tính hay những cảm xúc không mong muốn; - Giúp các em có đời sống tinh thần khỏe mạnh, vui vẻ khi đến trường và có kết quả học tập tốt.