CHƯƠNG I. Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh trong dạy học phần Địa lí tự nhiên 10 1. Cơ sở lí luận của đề tài 1.1 Một số khái niệm, thuật ngữ cơ bản Khái niệm năng lực Trong tài liệu tập huấn việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực HS do bộ GD & ĐT phát hành năm 2014: “ Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kĩ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ bản thân.nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó. Năng lực bao gồm các yếu tố cơ bản mà mọi người lao động, mọi công dân đều phải có, đó là các năng lực chung cốt lõi.” Như vậy, có thể hiểu một cách ngắn gọn: Năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong các tình huống thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động.
Thể hiện một năng lực là biết sử dụng các nội dung và các kĩ năng trong những tình huống có ý nghĩa, có năng lực có nghĩa là làm được. Khái niệm về năng lực tự học Năng lực tự học được hiểu là khả năng của cá nhân trong việc tự điều chỉnh quá trình học tập của mình mà không cần sự hỗ trợ trực tiếp từ người khác. Điều này bao gồm việc xác định mục tiêu học tập, lên kế hoạch, tìm kiếm nguồn tài nguyên học tập, tổ chức và xử lý thông tin, cũng như đánh giá và phân tích về quá trình học tập của bản thân. Biểu hiện của năng lực tự học có thể được thấy qua việc học sinh chủ động tìm kiếm và khám phá kiến thức, không chỉ dựa vào nguồn thông tin được cung cấp trong lớp học.
Học sinh biết cách tự đặt câu hỏi, tổ chức thông tin, sử dụng các phương tiện học tập hiệu quả và tự đánh giá hiệu suất học tập của mình. Sự tò mò, khả năng sáng tạo và khả năng áp dụng kiến thức vào thực tế cũng là những dấu hiệu của năng lực tự học tốt. Năng lực tự học đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển các kỹ năng học tập suốt đời, giúp cá nhân thích nghi với sự thay đổi không ngừng của xã hội và công nghệ. Nó cũng thúc đẩy tư duy phê phán và sáng tạo, làm cho quá trình học tập trở nên sâu sắc và ý nghĩa hơn.
Năng lực tự học cũng là chìa khóa giúp học sinh phát triển thành những người học độc lập, tự chủ và có trách nhiệm với quá trình học tập của mình. 4 Trong những năm gần đây, Bộ GD & ĐT đã có rất nhiều chỉ đạo đổi mới phương pháp giáo dục các cấp học. Trong đó, nhấn mạnh tới phương pháp giáo dục bồi dưỡng kỹ năng tự học cho học sinh: tại Luật giáo dục 43/2019/QH14 có nêu lên định hướng đổi mới phương hướng giáo dục phổ thông đó là: bồi dưỡng phương pháp tự học; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh. Theo các văn bản và công văn giáo dục, việc phát huy năng lực tự học cho học sinh được coi là mục tiêu quan trọng.
Điều này không chỉ được thể hiện trong các chương trình giáo dục và hướng dẫn cụ thể, mà còn thông qua việc thúc đẩy và hỗ trợ phương pháp học tập chủ động, sáng tạo. Các trường học và giáo viên được khuyến khích tạo môi trường học tập mở, khuyến khích học sinh tự học và khám phá, và sử dụng các công cụ giáo dục để hỗ trợ quá trình này. Vai trò của tự học: Tự học là một trong những phẩm chất quan trọng nhất mà nhà trường hiện đại cần trang bị cho HS. Tự học có vai trò không chỉ khi các em còn ngồi trên ghế nhà trường mà cả khi các em bước vào cuộc sống.
Tự học là mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học vì trong hoạt động dạy học GV không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ những kiến thức có sẵn mà, chỉ yêu cầu HS ghi nhớ mà quan trọng hơn là phải định hướng, tổ chức cho HS tự mình khám phá ra những cái mới của các vấn đề khoa học. Giúp HS không chỉ nắm bắt được tri thức mà còn biết cách tìm đến những tri thức ấy. Tự học giúp HS tạo ra động lực mạnh mẽ cho quá trình học tập, nâng cao tính tự giác học tập và nắm bắt được kiến thức vững chắc hơn. Rèn luyện được những kĩ năng, kĩ xảo trong chương trình môn học và có khả năng áp dụng các kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo đã đạt vào thực tiễn.
Tự học giúp HS củng cố, mở rộng và đào sâu kiến thức. Kiến thức mà HS học, phát hiện, tìm ra ở trên lớp chỉ thực sự bền vững nếu như được ôn luyện, củng cố thường xuyên bằng cách tự học, tự giác làm bài tập, rèn kuyện kĩ năng. Thông qua tự học, HS tích cực, tự lực nắm kiến thức, rèn luyện kĩ năng bù đắp lỗ hổng kiến thức để thích ứng với yêu cầu phát triển của xã hội hiện đại. Góp phần hình thành nhân cách của HS như: tính tích cực, độc lập, kiên trì và tính tự giác cao, lập kế hoạch học tập và kiên trì vượt qua khó khăn để thực hiện kế hoạch của mình.
Bất kì ai trong cuộc đời, dù ở lĩnh vực nào cũng phải tự học. Người thì tự học để làm giàu kiến thức, mở mang sự hiểu biết; người thì tự học để nâng cao trình độ; người thì tự học để làm việc có hiệu quả hơn.cuộc sống vận động và phát triển không ngừng. Để khỏi tụt hậu, phải tự học suốt đời. Đặc điểm chương trình Địa lí 10 THPT 2018 phần Địa lí tự nhiên Chương trình Địa lí 10 năm 2018 đưa ra một cấu trúc kiến thức đa dạng, trong đó phần Địa lí tự nhiên chiếm một vị trí quan trọng.
Phần này tập trung vào việc giáo dục học sinh về các quy luật tự nhiên, sự hình thành và phát triển của Trái đất, các hiện tượng địa lí như khí hậu, thổ nhưỡng, và hệ thống sông ngòi. Bên cạnh đó, chương trình Địa lí tự nhiên còn bao gồm cả việc tìm hiểu về các tài nguyên tự nhiên và ảnh hưởng của chúng đối với sự sống và hoạt động của con người. Kiến thức này giúp học sinh hiểu rõ hơn về thế giới tự nhiên xung quanh các em, từ đó phát triển tư duy phản biện và nhận thức sâu sắc về môi trường và sự bền vững. Chương trình Địa lí 10 năm 2018 phần tự nhiên không chỉ nhấn mạnh vào kiến thức lý thuyết mà còn đặt ra yêu cầu cao về kỹ năng cho học sinh.
Điều này bao gồm khả năng phân tích và đánh giá các hiện tượng Địa lí, kỹ năng sử dụng bản đồ và biểu đồ, bảng số liệu, tranh ảnh để trình bày và hiểu thông tin. Ngoài ra, học sinh còn cần phát triển kỹ năng liên kết kiến thức Địa lí với các vấn đề thực tế, từ đó đưa ra các quan điểm và giải pháp cho các vấn đề liên quan đến môi trường và phát triển bền vững. Sự linh hoạt trong tư duy, khả năng tương tác và làm việc nhóm cũng là các kỹ năng quan trọng mà chương trình hướng tới. Chương trình gồm có 70 tiết, gồm 3 phần trong đó phần Địa lí tự nhiên có 6 chương với 15 bài, cụ thể: Cấu trúc chương trình phần Địa lí tự nhiên 10 KNTT Trong đó Chương Số tiết Lý thuyết Thực hành 2.
MỘT SỐ QUY LUẬT 3 3 0 CỦA VỎ ĐỊA LÍ TỔNG 28 23 5 1. Đặc điểm tâm lý, năng lực học tập của học sinh lớp 10 Học sinh lớp 10, ở độ tuổi từ 15 đến 16, đang trong giai đoạn chuyển tiếp quan trọng từ tuổi thiếu niên sang thanh niên. Về mặt tâm lý, các em bắt đầu hình thành nhận thức độc lập, khao khát tự do và thể hiện cá tính riêng biệt. Đồng thời, học sinh cũng dễ bị ảnh hưởng bởi bạn bè và môi trường xã hội.
Trong lĩnh vực học tập, học 6 sinh lớp 10 bắt đầu thích nghi với chương trình học trung học phổ thông, có sự thay đổi về độ khó và yêu cầu cao hơn so với trung học cơ sở. Học sinh có khả năng tư duy phân tích và trừu tượng tốt hơn, cùng với sự hiểu biết sâu hơn về các môn học cụ thể. Tuy nhiên, học sinh lớp 10 cũng có thể đối mặt với áp lực từ việc học hành, tình trạng mất cân đối giữa học và chơi, cũng như sự không chắc chắn về tương lai và sự lựa chọn nghề nghiệp. Sự hỗ trợ từ gia đình, nhà trường và bạn bè rất quan trọng để giúp các em học sinh phát triển cân đối và lành mạnh, cả về mặt trí tuệ lẫn tình cảm.
Đồng thời, việc học sinh được khuyến khích tham gia vào các hoạt động ngoại khóa và phát triển kỹ năng mềm cũng là yếu tố cần thiết để các em chuẩn bị tốt nhất cho những năm học phía trước và cuộc sống sau này.4 Thực trạng vấn đề rèn luyện kĩ năng tự học môn Địa lí cho HS trong giảng dạy phần Địa lí tự nhiên lớp 10 Để tìm hiểu thực trạng việc rèn luyện kĩ năng tự học cho HS trong môn Địa lí lớp 10 THPT, tác giả đã tiến hành khảo sát bằng phiếu điều tra HS lớp 10D01 và 10D1 trường THPT Quỳnh Lưu 2 và khảo sát qua google form đối với 17 giáo viên dạy ở các trường THPT cụm Quỳnh Lưu – Hoàng Mai. Thời gian khảo sát được tiến hành trong năm học 2023 -2024 Sau khi tiến hành khảo sát, tác giả rút ra được một số nhận định như sau: 1. Thực trạng về phía giáo viên Trong bối cảnh giáo dục hiện nay, giáo viên đối mặt với nhiều thách thức trong việc giảng dạy môn Địa lí. Một trong những vấn đề lớn là việc cập nhật và áp dụng phương pháp giảng dạy mới để phù hợp với đối tượng học sinh ngày càng đa dạng và với nhu cầu của chương trình giáo dục hiện đại.
Nhiều giáo viên có thể chưa hoàn toàn sẵn sàng để tích hợp công nghệ vào bài giảng hoặc phát triển các phương pháp học tập chủ động như mô hình lớp học đảo ngược,.