CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CARTOGRAM. Việc thể hiện dữ liệu bằng Cartogram đã được quan tâm thực hiện từ khá lâu 'Theo nhã bản đồ học Zachary F, J„ hình ảnh theo kiểu cartogram đầu tiên xuất hiện năm 1868 trong sich Địa lý kinh tế cũa tác giả Emile Levasseur. Năm 1897, một bản đỗ tương tự cũng xuất hiện ở Atlas Thế giới của Rand MeNally.
Các bản đỗ, nay đều dùng các biểu đồ (hình vuông, hình tròn) có kích thước tỉ lệ với giá trị đối tượng để thể hiện. Tuy nhiên, chúng còn khá đơn gián để có thể xem là một bản đồ. Bailey ở Đại học Yale xây dựng bản đồ thể hiện số dân qua kích thước các bang của nước Mỹ. Nhà bản đỗ học John Krygier cho riing day là một trong những bản đỗ cartogram đầu tiên.
Do sự phức tạp của việc xây dựng bàn đổ theo cartogram, phương pháp này chỉ thật sự được phát triển và trở nên phổ biển vào những năm T0 của thể kí XX, sau khí có sự ra đời và phát triển của máy tính. Giới thiệu về các loại cartogram Borden Dent đã giới thiệu về canogram trong quyền “Cartography Thematic _Map Design” như sau: *Cartogram có lãnh thổ tang thco giá trị. hình ảnh ana-mor- pho hoặc đơn giản là sự biển đổi không gian. Dù có tên là gì, cartogram là đại điện duy nhất của không gian địa lí.
Kiểm tra chặt chẽ hơn, việc lắp bản đồ bằng cách mã hóa dữ liệu bản đồ có diện tích lãnh thổ tăng theo giá trị sẽ đơn giản và hiệu quả đối với việc không có dữ liệu tổng quát hoặc mắt chỉ tiết. Hai hình thức, tiếp giáp và không tiếp giáp, đã trở nên phố biến. Việc lập bản đỗ bao gồm cả việc đòi hỏi phải duy trì các hình dạng, định hướng các phẩn tiếp giáp và dữ liệu biển thể thích hợp. Sự truyền đạt thành công phụ thuộc vào cách người đọc bản đỗ cũng nhận ra các hinh dạng của các đơn vị được liệt kế trong đó, sự ước tính chính xác của các khu vực và sự hiệu quá của các kí hiệu chú thích, Hình dạng phức tạp bao gồm bản đồ có hai biển dối.
Việc xây dựng carlogram có thể lá bằng thủ công hoặc sử dụng máy tỉnh. Trong cả hai phương pháp, vi im tra mt cich cin thận tinh logic đẳng sau việc sử dụng các bản đỗ điện ích phải được tiền hảnh đầu tiền". [1] Bản đồ duge gol la cartogram khi nó có sự biển dạng về kich thước, đổi khi cả về hình dạng hoộc khoảng cách giữa các lãnh thổ địa lí một cách rõ rằng. Thông thường lãnh thổ địa phương trên cartogram được biến đổi để kích thước của chúng.
tỷ lệ thuận với qui mô của các đối tượng địa lí bắt kỳ cỏ tính năng do lường được cẩn thể hiện trên lãnh thổ đó [3]. 'Carlogram là một loại đỗ họa mồ tá Ìhuộc tính của các đối tượng địa IÍ bằng điện tích của đối tượng [6]. Bởi vì một cartogram không mô tả không gián địa lí, nhưng việc thay đổi kích cỡ của các đối tượng phụ thuộc vào một thuộc tỉnh nhất định, cartogram cô thể có hình đạng khác nhau tùy thuộc vào mức độ thay đổi kích cỡ lãnh. Mot sé cartogram rit giống với bản ido khoa thường gặp, tuy nhiên một số lại trồng không gidng mot bản đỗ nào ca.
Cö ba loại cardogram chính, nỗi loại có một cách biểu thị các huộc tính của sắc đổi tượng địa lí rắt khác nhau, gồm Non-Contipuous cartogram (cartogram không tiếp eiip), Contiguous cartogram (cartogram tiẾp giáp) và Dorling carogram (cartogram Dorling). Cartogram khong tiép gidp (Non-Contiguous cartogram ) Hình 1 là một ví dụ của hai dạng cartogram không tiếp giáp thể hiện dân cư ớ California, Mot cartogram khdng tiếp giáp là kiểu cartogram đơn giản và dễ tạo thánh nhất. Cartogram không tiếp giáp (Non-Contiguos cartogram) Trong tị gan không tiếp giáp, những đổi tượng địa lí không phi nối với những đổi tượng kể bên của chúng. Các đối tượng không còn giữ sự liễn kể không gimn như lúc đầu mà có thể rời nhau hoặc chồng lên nhau.
Bằng việc giải phỏng cúc đổi tượng tử những đổi tượng liễn kẻ. kích thước của chúng có thể lớn lên hay co ại và vẫn còn duy tri hình dạng cơ bản Trong cartogram không tiếp giáp nảy lại được chia làm 2 loại đó là loại chẳng. xắp và không chồng xếp. Loại chẳng xếp (hình bên trả): đã duy trì trọng tâm của đối tượng nên khi giả trị thuộc tính lớn thì không gian địa lý tăng lên lại lâm cho các khu vực nằm chồng chéo lên nhau.
Loại không chồng xếp (hình bên phải): các đối tượng không chỉ co lại hoặc lớn, nhưng chúng còn di chuyển về các p 8 trinh chồng chéo với các đổi tượng khác. Mặc di diéu nay gây ra một dang trong khoảng cách. nhưng lại giữ để quan sắt các đổi tượng hơn. Bằng cách không cho phép các đổi tượng để chẳng lên nhau, các kích thước mô tả của các đối tượng được nhin thấy tốt hơn.
Cartogram tiếp giáp (Comtiguows cartogram) "Trồng một e8iogÿiii Không tiêp Big Bính học 4060 đợc hỳ dinh G8 IP hình dang lãnh thổ. Tuy nhiên, trong mot eartogram tiếp giáp lại có sự đảo nghịch khi hình học töpô được giữ nguyên nhưng điều này gây ra sự biển dạng lãnh thổ rắt lớn. Các đối trọng vẫn giữ mỗi n hệ liễn kề nhau nhưng do diện tích đổi tượng thay đổi tương ứng với giá trị, nên dẫn đến sự biến dạng hình học của đối tượng. “Sự biến dạng lãnh thổ tạo ra vẫn để khó khăn duy nhất nhưng lại rất hấp dẫn.
trong việ tạo ra cartogram tiếp giáp. Những người thành lập cartogram phải làm cho các đổi tượng có kích thước phủ hợp để đại diễn cho các giá tr thuộc tính, nhưng họ cũng phải duy tì hình dang của các đối tượng một cách tốt nhất để cadogram cỏ thể được diễn giải một cách để đàng. Hình 2 là ví dụ về một “ardogram tiếp giáp, thể hiện dân số của California Contiguous Cartograms ` Hình 2. Cartogram tiép gidp (Contiguous cartogram) 1.
Cartogram Dorling (Dorling cartogram) iy là loại cartogram được đt theo tên nhà phát mình ra nó, ido sư Danny Dorling ở Dại học L.eeds, Một cartogram Dorling duy tri duge hình dạng bình học tip, vi vay nó được xem là một phương pháp cartoram rắt hiệu quả ` Hình 3. Dorling Cartogram (Cartogram Dorling) Mình 3 là vi dụ vẻ một cartogram Dorling thé hign din s6 California. Dé tg0 ‘mgt carlogram Dorling, thay vi mở rộng hoặc thu hep các đổi tượng chính, những người vẽ bản đỏ sẽ thay thể các đối tượng với một hỉnh đông đều, thưởng là một vòng tron với các kích thước phù hợp. Cartogram Dorling véi cde hinh đại diện lãnh thổ không trùng nhau.
mà đúng hơn là được dì chuyển để thể hiện đẩy đủ các 'khu vực cẳn được nhìn thấy. Lựa chọn dạng cartogram phù hợp phục vụ ging dạy và học tập địa Mu trường Trang học ph thông, Từ khi lên kế hoạch thành lập các eartogram, ching ta phải quyết định sẽ biển cỗi hình dạng lãnh thổ như thể nảo để hiển thị tốt nhất những gì mong muỗn người khác nghiên cứu. Có nhiều phương pháp thành lập cartogram khác nhau, mỗi dạng. cổ những đặc trưng tiếng của nố- Trong đề ải này, chứng tối lục chọn phương phép: Contiguous Cartogram (cartogram tiếp giáp).
Trong các trường hợp phục vụ giảng day vi học tập địa lí cẮp trung bọc phổ thông, contiguous carlogyam có thể xem là phương pháp được lựa chọn để thực hiện tối ưu hơn cả. Với ưu thể làm biển dạng điện tích nhưng vẫn giữ được sự liên kết về ranh giới giữa các lãnh thổ, không bị tách ra hay biển đổi sang dạng hình học. Điều này giúp mình họa sự biến động dân số nhưng vẫn giữ hình dáng lãnh thổ gằn nhất với bản đồ truyền thống. vì đổi với một catogram có hiệu quả.
người đọc phải có khả năng nhanh chóng nhận biết những dữ liệu hiển thị và nó liên quan đến mô hình địa i ban đâu Hình 4 cho thấy một lợi thể rất lớn của caúogram so với bản đồ có hình đạng truyền thống đó là người đọc cartogram có thể thấy ngay được sự khác biệt về diện. tích lãnh thổ của các quốc gia, tùy vào độ lớn của lãnh thổ có thể đưa ra kết luận. 'ban đầu về qui mô dân số của quốc gia, có thể nhận biết thử tự về qui mô dân số giữa các quốc gia của từng năm và so sảnh sự biến đổi giữa các năm Khai thác. carlogram, người đọc sẽ dễ đảng tập trung vào các quốc gia có lãnh thổ biển dạng phỏng to lên rất lớn so với điện tích lãnh thổ thường thấy như Trung Quốc và Án.
Độ hay các quốc gia bị thu hẹp rất nhiều về điện tích như Australia, Nga. Qua đỏ, người đọc có thể ghi nhận nhanh chóng về các nước có qui mô dân số lớn trên thé giới hoặc các quốc gia có hình đạng khác biệt hoàn (oản so với hình dạng lĩnh thổ thường thấy, “Trong khi đó, các dạng bản đồ truyền thông với hình dạng, điện tích lãnh thổ cổ định, người đọc bản đổ thường chỉ có thể nhận biết được quốc gia đó thuộc. nhóm qui mô dân số nào bằng phương pháp nn chất lượng tủy theo sự phân cắp của người thành lập bản đỏ. Bên cạnh đó, thông qua phương pháp bản đồ- biểu đồ, người đọc có thể nhận biết qui mô dân số từng quốc gia nhưng phương pháp này.
thường ít khả thi vì các biểu đồ khó có đủ điện tíchđể biểu hiện đầy di thôngsố “của các quốc gia hoặc nếu có chỉ thể biện được một vải quốc gia chủ yếu. 'Khi khai thác hai cartogram thể hiện qui mô dân số hai năm 2005 và 2012, người đọc đễ dàng thấy được sự thay đổi về qui mô đân số của một quốc gia Dân đồ sử dụng phương pháp nền chất lượng khó nhận biết hơn conliguous cartogram nếu qui mô dân số năm sau không thay đổi đáng kể so với năm trước và không. chuyển sang một cấp phân bộc mới. Việc thành lập các contiguous cartogram của nhiễu tiếu chí khác nhau với những hình dạng đa dạng cũng sẽ giúp người đọc bản đồ tiếp cận sự khác biệt một cách rõ rằng.
Hình 4B thể hiện qui mô dân số các quốc gia trên thể giới có hình dạng hoàn toàn khác biệt so với hình dang lãnh thổ thể hiện ở hình 4A. h 4, Bản đồ thông thường vit Contiguous cartogram Contiguous eartogram thể hiệ giá tị của một dối tượng số liệu thống kế bằng cách thay thi in din tich của khu vực địa lý.