CHƯƠNG I CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN TÂM LÝ HỌC ĐƯỜNG TẠI CÁC TRƯỜNG THPT I. TỔNG QUAN VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Trên thế giới 1. Xu hướng thứ nhất: Nghiên cứu thực trạng nhu cầu tư vấn tâm lý học đường Nội dung nghiên cứu: Thường tập trung vào nhu cầu tư vấn, các vấn đề cần tư vấn, số lần đến phòng tâm lý học đường, nguyên nhân cản trở đến các dịch vụ hỗ trợ, tư vấn.
Những đánh giá theo nghiên cứu của xu hướng này cho thấy học sinh cần được hỗ trợ tâm lý thường là bạo lực học đường, các mối quan hệ xã hội, định hướng giá trị, bắt nạt học đường, kĩ năng giải quyết các vấn đề, khó khăn trong học tập, giá trị sống, kỹ năng sống. Các kết quả nghiên cứu khẳng định rằng, tần suất đến phòng tâm lý học đường của học sinh là khá hạn chế vì họ bị cản trở bởi nhiều nguyên nhân, như: suy nghĩ đến phòng tư vấn tâm lý là có vấn đề, lo ngại về tính bảo mật của thông tin cá nhân, học sinh không đủ thời gian vì lịch học tại trường bị khép kín, sự phức tạp của một số quy trình tư vấn tâm lý, nhiều giáo viên tư vấn lúng túng và không hỗ trợ thỏa đáng cho học sinh do nghiệp vụ tư vấn còn hạn chế. Xu hướng thứ hai: Phát triển các thang đo về nhu cầu tư vấn, tư vấn tâm lý Mới đầu, những nghiên cứu về nhu cầu tư vấn tâm lý theo xu hướng điều tra được thực hiện dựa trên một số công cụ và phương pháp đơn giản như phỏng vấn theo nhóm, phỏng vấn trọng tâm và bảng hỏi, các công cụ đánh giá về nhu cầu ở học sinh. Từ đó, nhằm đánh giá chính xác, khách quan và khoa học về thực trạng nhu cầu tư vấn, tư vấn tâm lý ở học sinh, các nhà khoa học tâm lý đã xây dựng và phát triển các thang đo về nhu cầu tư vấn, tư vấn tâm lý để đảm bảo độ tin cậy.
Ở Châu Phi, thang đo "The Students Counseling Needs Scale” (Thang đo nhu cầu tư vấn cho học sinh) của Nyutu (2007) được sử dụng khá phổ biến. Thang đo này cũng được chính Nyutu & Gysbers (2010) sử dụng trong một nghiên cứu gân đây: “Nhu cầu tư vấn của học sinh trung học phổ thông Kenya” nghiên cứu được thực hiện trên học sinh THPT ở Kenya. Nghiên cứu một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của việc sử dụng công cụ đánh giá để xác định nhu cầu tư vấn tại Kenya thay cho các công cụ đánh giá nhu cầu chung ở học sinh, sinh viên. Xu hướng này vẫn đang rất được khuyến khích tại các nước Châu Á và Châu Phi.
Riêng ở các nước Châu Âu và Mỹ, các nghiên cứu về phát triển thang đo và công cụ đánh giá nhu cầu tư vấn, tư vấn tâm lý học đường đang dần được chú trọng. Các công cụ này hỗ trợ rất lớn cho các nhà tư vấn xây dựng mô hình tư vấn, đáp ứng đúng nhu cầu của học sinh, sinh viên như McGannon, Carey & Dimmitt (2007) có nhận định: “Tư vấn học đường có tiềm lực to lớn trong việc giúp học sinh, sinh viên đạt các tiêu chuẩn cao hơn trong các lĩnh vực học đường và cuộc sống; điều này phần lớn phụ thuộc vào các công cụ đo lường nhu cầu tư vấn, hỗ trợ tâm lý và các phương pháp cải thiện hành vi của học sinh, sinh viên” (Corey Gerald (1991) 1. Xu hướng thứ ba: Nghiên cứu xây dựng các mô hình tư vấn tâm lý học đường thay đổi nội dung, chương trình hoạt động tư vấn học đường. Ở Mỹ có mô hình tư vấn học sinh dựa trên kinh nghiệm; mô hình tư vấn của Trường Illinois, mô hình tư vấn của Trường đại học tổng hợp Winsconsin và đặc biệt là mô hình tư vấn chuyển đổi của các tác giả Eschenauer và Chen -Hayes dành cho các trường học ở đô thị.
Bên cạnh đó, còn có các mô hình tâm lý học đường như mô hình phân phối dịch vụ tâm lý học, trường học 3 tầng (năm 2008), mô hình dịch vụ tư vấn học đường tích hợp và toàn diện (năm 2010). Ở Pháp đã hình thành một mạng lưới hỗ trợ đặc biệt (RASED). Đây là mô hình trợ giúp đặc biệt bao gồm những hoạt động cùng nhau phòng ngừa và khắc phục khi giáo viên không có biện pháp thay thế nào. Mạng lưới RASED có hai nhiệm vụ chính là phòng ngừa và hỗ trợ.
Ở Singapore có mô hình Dịch vụ chăm sóc học sinh (Student Care Service - SCS). Ở Trung Quốc có mô hình chăm sóc sức khỏe tâm thần tại các nhà trường cho học sinh các cấp. Các nghiên cứu đã cho thấy được nội dung, đặc điểm, biểu hiện, mức độ của nhu cầu được tư vấn hỗ trợ tâm lý học đường cho học sinh khi học sinh có khó khăn tâm lý. Các nghiên cứu này nói chung đều có thể được ứng dụng hiệu quả trong việc xây dựng các chương trình, kế hoạch chẩn đoán, phòng ngừa và can thiệp sớm trong học đường.
Hiện nay, Hiệp hội các nhà Tâm lý học đường ở nước Mỹ được xem là kiểu mẫu cho các chương trình tư vấn hỗ trợ tâm lý học đường của hầu hết các nước trên thế giới. Hiệp hội này, hiện tại có hơn 23.000 hội viên trên toàn thế giới. Các dịch vụ tư vấn, hỗ trợ tâm lý học đường đã trở nên phổ biến và không thể thiếu được trong các trường học, các cơ sở đào tạo ở các nước phát triển như Anh, Pháp, Nga, Đức. và nhiều quốc gia khác trên thể giới.
Như vậy, trên thế giới các nghiên cứu theo ba khuynh hướng trên đã góp phần giúp các nhà quản lý ở các trường phổ thông và đại học có cơ sở để tìm các biện pháp tổ chức hoạt động tư vấn tâm lý học đường cho học sinh một cách bài bản, khoa học và hiệu quả nhất. Tại Việt Nam Theo chuyên gia, trong môi trường học đường, học sinh mắc phải muôn vàn vấn đề tâm lý khiến việc tư vấn tâm lý cần phải được tiếp cận từ những bước đầu. Nhạy cảm nhất là độ tuổi vị thành niên Bác sĩ chuyên khoa 2 Nguyễn Thị Triều Tiên, Trưởng khoa Tâm lý tâm thần trẻ em, Bệnh viện Tâm thần TP.HCM, cho biết đa phần trẻ em Việt Nam đều đang ở độ tuổi đến trường, trong đó, từ 0 - 6 tuổi, từ 7 - 12 tuổi và 13 - 18 tuổi sẽ có những vấn đề tâm lý khác nhau. Nhạy cảm nhất về tâm lý là độ tuổi vị thành niên.
Đây là lứa tuổi đặc biệt bởi thời điểm này học sinh có nhiều thay đổi về thể chất, tâm lý cũng như quan hệ xã hội, gia đình. Đồng thời, trong môi trường học đường cũng là một tác nhân làm trẻ thay đổi suy nghĩ và ảnh hưởng tâm lý nhiều nhất. Trong trường học hiện nay có quá nhiều sự thay đổi khi học sinh chuyển cấp. Ở tiểu học, học sinh được nâng niu, cưng chiều nhưng lên cấp THCS, học sinh phải đối mặt với môi trường có sự cạnh tranh, ganh đua về điểm số, các kỳ kiểm tra, kỳ thi liên tục.
Học sinh bị áp lực đột ngột về kết cấu chương trình cô đặc, cách xếp loại, chấm điểm. Chính vì những chuyển biến như vậy khiến trẻ dễ bị sốc trong môi trường học đường. Chưa kể bản thân học sinh cũng đang gặp khó khăn về tâm lý ở lứa tuổi này. Ghi nhận thực tế tại khoa tâm lý tâm thần trẻ em, trung bình khoảng 500 - 700 bệnh nhân trẻ em đến khám trong một tuần về tâm lý tâm thần.
Tỷ lệ bệnh nhân là trẻ vị thành niên chiếm số lượng lớn. Bị tâm lý vì học tập hay các mối quan hệ Tuy nhiên, theo bác sĩ Nguyễn Thị Triều Tiên, hiện nay nhiều người còn nhầm lẫn học sinh bị tâm lý vì quá tải trong học tập. “Điều đó chỉ phản ánh một phần, cái chính của học sinh là các mối quan hệ với giáo viên, bạn bè và những đối tượng tương đồng khác”, bác sĩ Tiên nhấn mạnh. Mối đe dọa từ internet hay những trào lưu và những hội nhóm xấu trên không gian mạng khiến học sinh bị tẩy chay chỉ vì không theo kịp xu hướng với bạn bè.
Một thực tế đau lòng khác là những học sinh càng học giỏi càng có vấn đề tâm lý nhiều hơn. Đối tượng này dễ bị tổn thương bởi áp lực mình phải luôn giỏi trong mắt nhiều người. Cha mẹ thường mang con học giỏi làm “trang sức” cho mình mà không quan tâm đến suy nghĩ của con. Chỉ cần không thích ứng với những thay đổi nhỏ về điểm số, sợ người khác thất vọng về mình dẫn đến nguy cơ học sinh có tư tưởng tự tử rất cao.
Ngoài ra, giới tính cũng là vấn đề chi phối tâm lý học sinh. Đa phần nữ sinh dễ bị tác động tâm sinh lý nhiều hơn nam. Tuy vậy, học sinh nam cũng vướng phải tâm lý do nhiều vấn đề từ bạn học như: bị nhận xét hình thể, lo lắng về sự thu hút khác giới, cạnh tranh thành tích… Những vấn đề này dần dần dồn nén khiến học sinh bị áp lực tâm lý kéo dài. Không thể để tình trạng giáo viên kiêm nhiệm Theo quan sát của bác sĩ Tiên, hiện trạng ngành giáo dục chưa thực sự quan tâm vị trí việc làm cho đội ngũ chuyên gia tâm lý chuyên nghiệp.
Hiện nay tư vấn tâm lý trong trường học là những giáo viên kiêm nhiệm, không đủ chuyên môn để xử lý mâu thuẫn tâm lý cho học sinh, không biết nơi gửi học sinh đến khám khi có vấn đề. Học sinh tìm đến với thầy cô nhưng giáo viên rất thờ ơ. Một số thầy cô không biết phải xử lý như thế nào với nhiều trường hợp khó. Hiện nhiều giáo viên vẫn còn tư duy thụ động, ngồi chờ học sinh tư vấn.
Muốn làm tốt tâm lý học đường trước nhất cần chuyên gia tâm lý đúng chuyên ngành. Trường học phải là nơi giải quyết và ngăn chặn chiều hướng tâm lý xấu của học sinh từ sớm. Nếu không phát hiện và can thiệp sớm vấn đề tâm lý, nhiều khả năng tương lai của học sinh sẽ rẽ sang hướng hoàn toàn tiêu cực. Chữa khi đã quá muộn Bác sĩ Tiên cho biết xã hội hiện nay còn nhiều định kiến nặng nề về tâm lý tâm thần.
Có trường hợp phụ huynh đưa con đến bệnh viện là bước đi cuối cùng vì con đã trải qua nhiều biến cố lớn. Thật sự, bước đi này đã quá muộn và chỉ để giải quyết hậu quả đã xẩy ra.