mở đầu, gợi động cơ kết thúc từ thực tiễn của giáo viên khi dạy học. Câu 7: Thầy (cô) có sử dụng kiến thức dao động cơ để giải quyết tình huống thực tiễn trong các bài tập liên môn hay không? a) Thường xuyên. c) Chưa bao giờ.7: Mức độ vận dụng kiến thức dao động cơ cho các bài tập liên môn. Câu 8: Khi ra kiểm tra, đánh giá.
Thầy (cô) có thường xuyên đưa ra các dạng câu hỏi có nội dung thực tiễn vào đề kiểm tra hay không? a) Luôn luôn. d) Chưa bao giờ.8: Tần suất đưa ra các nội dung ứng dụng thực tiễn vào việc kiểm tra, đánh giá. Thông qua số liệu thống kê ở trên cho thấy, phần đa giáo viên hiện nay đã nhận thức được việc dạy học tăng cường vận dụng Vật Lý vào thực tiễn cho học sinh là rất cần thiết. Điều này cho thấy giáo viên phổ thông hiện nay đều có sự quan tâm đến vấn đề vận dụng Vật Lý vào thực tiễn, nhưng đa phần giáo viên dạy lại chưa thực hiện lồng ghép kiến thức vào thực tiễn, vì khi dạy vẫn còn phục vụ thi cử; do giáo viên còn nặng về việc dạy lý thuyết thuần túy SGK, ít quan tâm đến sự liên hệ giữa kiến thức Vật Lý với thực tiễn.
Mặt khác giáo viên còn hạn chế về năng lực cũng như chưa quan tâm nhiều đến các vấn đề thực tế. Việc sử dụng kiến thức dao động cơ để giải quyết tình huống thực tiễn trong ít giáo viên Vật lý quan tâm đến. Đa số giáo viên chỉ thỉnh thoảng hoặc chưa bao giờ thực hiện. Qua đó, tỷ lệ giáo viên đã thực hiện các định hướng tăng cường vận dụng kiến thức Vật Lý ở trường phổ thông còn thấp mặc dù có ý thức được rằng việc rèn luyện kỹ năng ứng dụng Vật Lý vào tực tiễn là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
b) Đối với học sinh: Ở khía cạnh người học, chúng tôi tiến hành điều tra bằng phiếu hỏi với 202 học sinh lớp 11 và 12 ở trường THPT Cửa Lò để làm rõ hơn những khó khăn, thuận lợi của các em khi học tập nội dung dao động cơ. Cụ thể tập trung vào một số vấn đề chính sau: 13 Câu 1: Theo em, việc học Vật Lý ở trường THPT hiện nay có cần tăng cường hơn nữa các yếu tố vận dụng Vật Lý vào thực tiễn hay không? a) Rất cần thiết. c) Không cần thiết.9: Sự cần thiết tăng cường các yếu tố vận dụng Vật Lý vào thực tiễn. Câu 2: Theo em, việc tìm hiểu về ứng dụng thực tiễn liên quan đến nội dung dao động cơ nói riêng và môn Vật Lý nói chung là: a) Cần thiết.
b) Rất cần thiết. c) Không cần thiết.10: Sự cần thiết của nội dung ứng dụng dao động cơ. Câu 3: Khi được học nội dung ứng dụng dao động cơ, các thầy (cô) có hướng dẫn, thiết kế các bài bài tập liên quan đến vấn đề thực tiễn hay không? Nếu có thì các thầy (cô) trình bày như thế nào? a) Có. Thầy (cô) trình bày chi tiết, đầy đủ và các bài bài tập có sức thu hút cao HS chú ý.
Bài bài tập đem lại ý nghĩa thiết thực. Nhưng thầy (cô) trình bày qua loa, đại khái cho hết chương trình. Bài bài tập chưa thực sự đưa ra kết luận có ý nghĩa. Thầy (cô) chưa đưa ra các ví dụ hay liên quan đến thực tế.
Các ví dụ khá sơ sài và thiếu thực tế. d) Chưa bao giờ.11: Mức độ nhiệt tình của giáo viên khi dạy học nội dung ứng dụng dao động cơ. Câu 4: Khi học nội dung dao động cơ ứng dụng dao động cơ. Các em thường làm các công việc sau đây hay không? 14 - Sử dụng trí nhớ kiểm tra lại các kiến thức đã học để có thể vận dụng vào nội dung cần giải quyết.
- Trao đổi nhóm với bạn bè hoặc nhờ sự định hướng của giáo viên. - Liên hệ ngay nội dung cần giải quyết đến những mô hình trong thực tế để kiểm nghiệm. - Đề xuất hướng giải quyết hoặc khắc sâu nội dung đã giải quyết được để sử dụng cho các lần tiếp theo. Hoặc áp dụng nó vào các vấn đề liên môn.
- Chỉnh sửa nội dung nghiên cứu cho phù hợp. Lập báo cáo kết quả tìm được. a) Thường xuyên. c) Chưa bao giờ.12: Khả năng tìm hiểu của học sinh về ứng dụng thực tiễn của nội dung dao động cơ - ứng dụng dao động cơ.
Câu 5: Khi được học nội dung dao động cơ - ứng dụng của dao động cơ. Em thấy thầy (cô) thường xuyên làm các công việc sau hay không? - Nhắc lại về nội dung dao động cơ - ứng dụng của dao động cơ. - Đưa ra các bài bài tập, tình huống thực tiễn liên quan nội dung bài học. - Sử dụng phiếu học tập, chia nhóm để thảo luận.
- GV và HS cùng nhau trao đổi, thảo luận về nội dung bài học. - Sử dụng các công cụ hỗ trợ giảng dạy hiện đại, trực quan giúp HS hiểu sâu và tường minh các vấn đề. - Củng cố và nêu ra ý nghĩa của bài học. a) Thường xuyên.
c) Chưa bao giờ.13: Nhận xét của học sinh về cách thức truyền đạt của giáo viên về nội dung dao động cơ - ứng dụng của dao động cơ liên quan đến thực tiễn. Câu 6: Khi gặp các bài bài tập có nội dung thực tiễn. Em cảm thấy: a) Rất hứng thú. b) Hứng thú nhưng do thiếu kiến thức cơ bản về Vật Lý để giải quyết.
c) Sợ vì quá khó và trừu tượng. d) Không hứng thú vì cảm thấy không cần thiết.14: Thái độ của học sinh khi tiếp xúc với bài bài tập thực tiễn. Câu 7: Khi gặp bất kì bài bài tập nào liên quan đến thực tiễn trong SGK hiện hành hoặc trong các vấn đề thực tiễn của cuộc sống. Em có chắc chắn mình sẽ giải được nó? a) Không thể.
b) Không chắc lắm.15: Khả năng giải quyết bài tập thực tiễn của học sinh Câu 8: Sau khi học xong tất cả các kiến thức về dao động cơ, ứng dụng của dao động cơ. Em có hiểu bản chất của nội dung đó hay không hoặc nội dung đó có ý nghĩa như thế nào? a) Không hiểu gì. c) Thực sự hiểu.16: Mức độ hiểu bài sau khi học xong nội dung dao động cơ , ứng dụng của dao động cơ. Từ các số liệu khảo sát ở trên và qua phỏng vấn chúng tôi thấy: Một số học sinh đã chủ động ứng dụng kiến thức Vật Lý vào giải quyết các tình huống mà mình gặp phải, bên cạnh đó nhiều học sinh rất hứng thú với các bài bài tập thực tiễn nhưng lại không có khả năng giải quyết, một số học sinh khác thì không hứng thú vì thấy đây là một vấn đề khó.
Nhìn chung đa số học sinh vẫn còn tư tưởng học bài tập chỉ để phục vụ thi cử nên việc vận dụng Vật Lý vào thực tiễn cho học sinh tại các trường THPT hiện nay còn gặp nhiều khó khăn. c) Kết luận: Xuất phát từ tình hình thực tiễn dạy học dao động cơ có thể nhận thấy vấn đề khai thác và vận dụng các bài bài tập thực tế còn gặp nhiều khó khăn: 16 Về phía học sinh: - Khả năng tiếp cận kiến thức của học sinh chưa đồng đều. Khi gặp những bài bài tập dưới dạng khám phá, được diễn tả dưới dạng đồ thị, đề cập đến vấn đề trong cuộc sống thì học sinh còn lúng túng trong việc thiết lập mô hình Vật Lý tương ứng với nội dung thực tiễn của bài bài tập. - Học sinh thường mắc phải những sai sót rất cơ bản trong quá trình học tập chẳng hạn làm sai từ các phép biến đổi đơn giản, kiến thức mơ hồ.
- Có nhiều lỗ hổng kiến thức vì vậy học sinh dễ chán nản. Khả năng tiếp thu còn hạn chế, chưa linh động trong việc xử lý các tình huống bài tập đơn giản. - Chưa thấy được ý nghĩa của việc học Vật lý, khả năng liên hệ đến thực tiễn còn hạn chế, rất ít học sinh thuần thục và sáng tạo khi vận dụng các phương pháp. - Chưa hiểu được kiến thức dao động cơ ứng dụng vào thực tế như thế nào.
Về phía giáo viên: - Trong quá trình giảng dạy chưa lấy được ví dụ sinh động gắn với thực tiễn và ngại thay đổi phương pháp dạy học. - Chưa khơi dậy được niềm đam mê và hứng thú học tập, chưa xác lập được động cơ học tập đúng đắn cho học sinh. Từ những đánh giá nêu trên, giáo viên cần đưa ra các biện pháp phát triển năng lực thích hợp để giải bài tập ứng dụng dao động cơ cho học sinh THPT như sau: - Trang bị cho học sinh đầy đủ các kiến thức cơ bản, đảm bảo cho học sinh nắm chắc, có hệ thống các kiến thức được quy định trong chương trình. - Cho học sinh được va chạm để từ đó nhận thấy những lỗi hay mắc phải trong quá trình giải bài tập ứng dụng dao động cơ để học sinh khắc ghi và củng cố phương pháp giải.
- Chú trọng trang bị phương pháp giải bài tập dao động cơ cho học sinh với sự hướng dẫn, dạy học sinh cách phân tích, các thao tác tư duy khi đứng trước một bài bài tập thông qua hệ thống các bài tập theo từng chủ đề để đảm bảo sự phát triển bền vững trong tiếp thu kiến thức giải bài tập ứng dụng dao động cơ cho học sinh. Kết luận chương 1: Trong chương 1, Chúng tôi làm rõ những vấn đề cơ bản về năng lực tư duy, lập luận bài tập và năng lực vận dụng dao động cơ vào thực tiễn. Đặc biệt chúng tôi có làm một khảo sát cho cả giáo viên và học sinh nhằm tìm hiểu thực tế việc áp dụng kiến thức bài tập vào giải quyết các bài bài tập thực tế, cũng như những khó khăn và thuận lợi. Từ đó làm cơ sở để xây dựng các biện pháp dạy học góp phần phát triển tư duy và kỹ năng lập luận bài tập cho học sinh thông qua ứng dụng dao động cơ vào giải các bài bài tập thực tế.
17 CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH THÔNG QUA BÀI TẬP THỰC TẾ CHỦ ĐỀ: DAO ĐỘNG CƠ I. Định hướng một số biện pháp phát triển năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua bài tập ở trường THPT Cửa Lò. Định hướng 1: Các biện pháp xây dựng trên cơ sở tôn trọng nội dung chương trình SGK và tuân theo các nguyên tắc dạy học. Định hướng 2: Các biện pháp sư phạm phải đảm bảo mục đích: Sự cấp thiết và tính khả thi.