CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổ ng quan về silymarin 1. Cây kế sữa Kế sữa (Sylibum marianum (L.) Gaernt) là mô ̣t loài thực vật có hoa thuô ̣c ho ̣ cúc, là loa ̣i cây thảo số ng mô ̣t hoă ̣c hai năm, cao 30-150cm. Thân thẳng và phân nhánh.
Lá xanh, không có lá kèm, bóng láng, thường có nhiều đốm trắng dọc theo các gân, mép có răng dạng gai, gai màu vàng và rất nhọn; các lá phía trên và ở giữa ôm lấy thân; các lá ở dưới rất to, có phiến chia thuỳ và có cuống. Cụm hoa đầu đơn độc, rộng 3-10cm. Lá bắc ngoài và giữa có một phần phụ hình tam giác màu lục thu lại thành một gai to, ở gốc có 4-6 gai nhỏ, ngắn hơn, ở mỗi bên. Hoa màu tím, hiếm gặp màu trắng, hơi giống nhau, đều có 5 cánh hoa, 5 nhị và bầu 1 ô với 2 lá noãn và 2 vòi nhuỵ phình ở gốc.
Quả bế hình bầu dục thuôn, dài 7-8mm, màu đen bóng có vân vàng nhiều hoặc ít, tùy thuộc vào nguồ n giống S.marianum và điề u kiêṇ canh tác [15], [24], [26]. Ra hoa vào tháng 5 đến tháng 8 của năm thứ hai. Cây có nguồn gốc ở Địa Trung Hải và mọc hoang dại ở nhiều nơi trên thế giới như miền Nam và Trung Âu, Bắc Phi, Trung Đông, Ấn Độ, Trung Quốc, Bắc và Nam Mỹ [26]. Thành phầ n hóa ho ̣c của ha ̣t kế sữa Thành phần hoá ho ̣c chính của ha ̣t kế sữa là silymarin.
Silymarin flavonolignan là phenol tự nhiên gồ m mô ̣t phầ n flavonoid và mô ̣t phầ n lignan. Dịch chiết của hạt cây chứa khoảng 70-80% silymarin flavonolignans và khoảng 20-30% thành phần không xác định, chủ yếu là các hợp chất polyphenol oxy hóa và trùng hợp. Thành phần chính của tổ hợp silymarin là silybin, đồng nghĩa với silybinin. Ngoài silybin là hỗn hợp của 2 diastereomers A và B với tỉ lệ khoảng 1:1, một lượng lớn các flavonolygnants Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 11 khác có trong silymarin, đó là iosilybin, dehydrosilybin, silychristin, silydanin, và một số flavonoids, chủ yếu là taxifolin (hình 1.
Những tài liệu dược lý, y học và quang hóa, tranh luận rất nhiều về hiệu quả của silymarin/silybin. Nguyên nhân chính của sự không thống nhất và không chắc chắn về hiệu quả của silymarin/silybin là thành phần khác nhau của chế phẩm silymarin được sử dụng trong phần lớn nghiên cứu. Các dẫn chứng tài liệu cho thấy tỉ lệ của từng chất trong các loại silymarin khác nhau phụ thuộc rất lớn vào nguồn S.marianum (giống cây và điều kiện trồng) và quá trình tách chiết, xử lý. Gần đây, silymarin/silybin nhận được sự quan tâm do các hoạt tính có lợi của nó không liên quan trực tiếp đến hiệu quả bảo vệ gan và chống oxy hóa [28], [39], [42], [53], [54].1: Một số chất chính trong silymarin 1.
Đặc điểm và tính chấ t của flavonoid Flavonoid là một trong những nhóm chất polyphenol thường gặp trong thực vật, là những sắc tố phần lớn có màu vàng, tan trong nước nên có tên là Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www. Tuy nhiên, một số sắc tố có màu xanh, đỏ, tím hoặc không màu nhưng cũng được sắp xếp vào nhóm flavonoid vì nó cũng có đặc điểm về cấu trúc giống nhau [2], [10]. Tính chất lý học Flavonoid là một hợp chất phenol có một số tính chất sau: Flavonoid tinh khiết có dạng tinh thể hoặc dạng vô định hình, có nhiệt độ nóng chảy nhất định, có màu vàng như flavon, chalcon hoặc không màu như isoflavonoid, catechin, hay có màu sắc thay đổi tùy thuộc pH môi trường như antoxyanidin (ở môi trường acidcó màu đỏ, ở môi trường kiềm có màu xanh). Các aglycon (nhân phenol) của flavonoid hòa tan trong dung môi hữu cơ như ether, cồn etylic, aceton và hầu như không tan trong nước.
Flavonoid ở dạng liên kết (glycosid) hòa tan được trong nước nhưng không tan trong ether và chloroform. Flavonoid có hương thơm và vị đắng. Có khả năng hấp thụ tia tử ngoại nhờ hai vòng benzen A và B. Có hai dải hấp thụ cực đại: Dải I ở bước sóng 320-380nm, dải II ở bước sóng 220-280nm.
Tính chất hóa học Do đặc điểm cấu tạo của flavonoid có các nhóm hydroxyl phenolic, nhóm carbonyl, vòng thơm benzen nên chúng có khả năng phản ứng rất lớn. Tính chất hóa học của flavonoid còn phụ thuộc vào vị trí nhóm OH, hệ nối đôi liên hợp và các nhóm thế. Sau đây là các phản ứng hóa học đặc trưng của flavonoid: *Phản ứng của nhóm hydroxyl (OH) Tính oxy hóa: Dưới tác dụng của các chất oxy hóa ( nitrat bạc, ferricyanit, persulfate, các gốc tự do…) hay enzym polyphenoloxydase ,flavonoid sẽ bị oxy hóa thành các gốc phenoxy ArO* (gốc tự do bền). Các gốc này có thể dimer hóa hay phản ứng oxy hóa và các phản ứng làm bẻ gãy vòng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 13 Tính axit: Các flavonoid có tính acidyếu nên dễ dàng phản ứng với dung dịch kiềm để tạo thành muối tan trong nước khi đun nóng, cho màu vàng cam hay đỏ thắm. Antoxyan trong dung dịch amoniac hay natri cacbonate cho màu xanh hoặc tím. Sự tạo thành liên kết hydro: Khi không có trở ngại gì về mặt cấu trúc không gian liên kết hydro được hình thành giữa các nhóm OH trong cùng phân tử hoặc giữa các phân tử với nhau. Đặc điểm này làm ảnh hưởng đến tính chất hóa học như: Điểm sôi, điểm nóng chảy, độ hòa tan, đặc tính phổ tử ngoại, cấu trúc phân tử và khả năng phản ứng.
Phản ứng ether hóa: Ether thiên nhiên của phenol thường gặp trong thực vật, đặc biệt là những ether etylic. Những nhóm OH phenol dễ dàng tham gia phản ứng ether hóa. *Phản ứng của nhóm cacbonyl Phản ứng này đặc trưng cho các chất flavonoid có nhóm cacbonyl ở vị trí C4 và có nối đôi ở giữa C2 và C3, điển hình là flanonol, flavon không có OH ở C3 nên phản ứng khó hơn và cho màu nhạt nên đôi khi khó phát hiện. Phản ứng tạo phức với kim loại: Khả năng tạo chelat với kim loại nặng là một trong những tính chất quan trọng của flavonoid, liên quan đến hoạt tính sinh học của chúng.
Các phức màu xanh đen với molipden và sắt. Các flavonoid có nhóm cacbonyl ở vị trí C4 và hydroxyl ở vị trí C3-C5 dễ tạo phức với kim loại, đặc biệt với nhôm cho màu vàng hoặc vàng xanh, phát quang ở bước sóng 365nm. Tác dụng dươ ̣c lý của flavonoid Flavonoid có nhiều ứng dụng quan trọng trong y học. Những flavonoid có hoạt tính sinh học gọi là bioflavonoid phụ thuộc vào cấu trúc của chúng.
Khi đưa flavonoid vào cơ thể sẽ sinh ra các gốc tự do bền vững hơn các gốc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 14 tự do hình thành trong quá trình viêm nhiễm bệnh lý. Chúng có khả năng giải tỏa các điện tử tự do trên mạch vòng của nhân thơm và hệ thống nối đôi liên hợp, làm triệt tiêu các nguồn gốc tự do sinh ra trong quá trình viêm nhiễm, do tính bền vững về mặt hóa học nên chúng không tham gia vào dây chuyền phản ứng oxy hóa [23]. Flavonoid còn có tác dụng bảo vệ cho adrenalin hoạt động một cách bình thường do chúng có khả năng tạo phức với Cu2+, có tác dụng là chất xúc tác cho phản ứng oxy hóa adrenalin, leucholamin [23]. Flavonoid ảnh hưởng đến hệ thống nội tiết, làm tăng sức đề kháng của cơ thể đối với tác dụng gây độc bất kể loại nào, tăng chức năng thải độc của gan, tăng trao đổi glucose, tăng tổng hợp glucogene, ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp prothrombin của gan [25].
Các chất thuộc nhóm flavonoid có tác dụng làm giảm sức thấm của mạch mao như sinh tố P, một trong những chất quan trọng đó là rutin. Rutin có tác dụng chữa các bệnh xuất huyết mao quả n, làm cho thành mạch được bền vững, chữa cao huyết áp tăng, cường công hiệu vitamin khỏi bị oxy hóa. Nó còn ảnh hưởng tốt đến chuyển hóa canxi và còn chống được tia phóng xạ. Về mặt dược lý, các bioflavonoid có tác dụng chống viêm, giãn cơ trơn, chống dị ứng, ức chế sự phát triển của ung thư, làm giảm các tổn thương xuất huyết nhỏ trong bệnh đái đường.
Về mặt miễn dịch học, nhiều bioflavonoid có tác dụng kích thích lympho bào, sản xuất interferol, ức chế hiện tượng thoát bọng chứa các amin hoạt mạch từ tế bào mastocyte, ức chế sụ nhân lên của virus. Việc nghiên cứu và ứng dụng các chế phẩm flavonoid trên thế giới ngày càng phát triển. Ở Việt Nam đã có những nghiên cứu mà kết quả được ứng dụng vào thực tiễn, tạo mô ̣t số thuốc chữa bệnh có hiệu quả. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.
Tác dụng sinh học của cây kế sữa. Sơ lược về lịch sử sử dụng cây kế sữa làm thuốc. Cao chiết kế sữa đã được sử dụng làm thuốc từ thời Hy Lạp cổ đại. Dioscorides, một nhà dược thảo học Hy Lạp thế kỷ thứ I đã viết rằng, ha ̣t kế sũa pha thành trà uống có thể chữa được rắn độc cắn.
Pliney The Elder (năm 23-79 sau CN) ghi lại rằng, nước ép cây kế sữa trộn với mật ong làm thuốc lợi mật rất tốt. Đây có thể là ghi nhận đầu tiên về tác dụng của cây kế sữa liên quan đến gan [20]. Nhiều thế kỷ sau, kế sữa đã trở thành một cây thuốc quen thuộc ở Đức và đã được nhắc đến trong một bản thảo tiếng Đức cổ “Physica” của Hildegarde viết năm 1150 và được xuất bản vào năm 1533. Tác giả đã viết về công dụng của rễ, toàn cây và lá kế sữa.
Một số tác giả khác như Otto Brunfels (1534), Hieronimus Bock (1595), Jacobus Theodorus (1664) và Adam Lonicerus (1679) đã giới thiệu dùng kế sữa để trị bệnh về gan [24]. Vào cuối thế kỷ XVIII, Culpepper (1787) cho rằng kế sữa là thứ thuốc tuyệt vời làm thông tắc gan, lách và vì vậy dùng rất tốt để chữa bệnh vàng da. Giữa những năm 1772 đến 1850, một chế phẩm có tên gọi là “Cồn thuốc của Rademacher”, cao chiết cồn hạt kế sữa đã được dùng phổ biến để trị các rối loạn về gan, lách. Tương tự, cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, một trường đào tạo các nhà dược thảo học tên là “Eclectic” đã dùng cao chiết kế sữa để điều trị sung huyết gan, giãn tĩnh mạch, rối loạn kinh nguyệt và các bất thường của lá lách và thận [20], [21].
Năm 1958, các nhà khoa học người Đức bắt đầu chú ý nghiên cứu cây kế sữa. Các nghiên cứu về tác dụng bảo vệ gan, thành phần hoạt chất và cơ chế tác dụng đã được thực hiện.