CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN (BIDV) 1. Lịch sử hình thành và phát triển : Lịch sử xây dựng, trưởng thành của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam là một chặng đường đầy gian nan thử thách nhưng cũng rất đỗi tự hào gắn với từng thời kỳ lịch sử bảo vệ và xây dựng đất nước của dân tộc Việt Nam. - Giai đoạn 1957 – 1980: Thành lập ngày 26/4/1957 với tên gọi là Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam - tiền thân của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam được thành lập với qui mô ban đầu gồm 11 chi nhánh, 200 nhân viên với nhiệm vụ chủ yếu là cấp phát, quản lý vốn kiến thiết cơ bản từ nguồn vốn ngân sách cho tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội. - Giai đoạn 1981 – 1989: Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam trực thuộc ngân hàng nhà nước Việt Nam với nhiệm vụ là cấp phát, cho vay và quản lý vốn dầu tư xây dựng cơ bản thuộc kế hoạch nhà nước tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế.
- Giai đoạn 1990 – 1994: Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) với nhiệm vụ được thay đổi về cơ bản: Ngoài việc tiếp nhận vốn ngân sách để cho vay các dự án thuộc chỉ tiêu nhà nước thì BIDV đã thực hiện huy động các nguồn vốn trung dài hạn để cho vay đầu tư phát triển; kinh doanh tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng chủ yếu trong lĩnh vực xây lắp phục vụ đầu tư phát triển. - Giai đoạn từ 1995 – 2000: BIDV được phép kinh doanh đa năng tổng hợp như một ngân hàng thương mại, phục vụ chủ yếu cho đầu tư và phát triển đất nước. Đây là thời kỳ BIDV đã khẳng định được vị trí, vai trò là ngân hàng thương mại hàng đầu tại Việt Nam trong sự nghiệp 10 công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với danh hiệu đơn vị Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới. - Ngày 28-12-2011, BIDV đã tiến hành cổ phần hóa thông qua việc bán đấu giá cổ phần lần đầu ra công chúng (IPO).
- Ngày 27-4-2012, BIDV chính thức chuyển đổi thành ngân hàng thương mại cổ phần. - Ngày 24-01-2014, BIDV giao dịch chính thức cổ phiếu với mã chứng khoán BID trên sàn chứng khoán. (*) Sở hữu gián tiếp qua công ty con (**) Công ty Cho thuê tài chính TNHH BIDV - Sumi Trust được thành lập trên cơ sở chuyển đổi hình thức pháp lý của Công ty Cho thuê tài chính TNHH Một thành viên BIDV và ngân hàng vẫn nắm quyền kiểm soát theo chuẩn mực kế toán và các quy định hiện hành của NHNN Việt Nam Hình 1.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức hệ thống BIDV sau cổ phần hóa 11 - Giai đoạn từ 2014 đến nay: BIDV đã triển khai đồng bộ Đề án cơ cấu lại được chính phủ phê duyệt và dự án hiện đại hóa ngân hàng và hệ thống thanh toán do Ngân hàng thế giới tài trợ tiến tới phát triển thành một ngân hàng đa năng hàng đầu của Việt Nam hoạt động ngang tầm với các ngân hàng khu vực.2 : Sơ đồ cơ cấu bộ máy quản lý Hình 1.3 : Sơ đồ cơ cấu tổ chức chi nhánh - Những thành tựu: Ghi nhận những đóng góp của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam qua các thời kỳ, Đảng và Nhà nước CHXHCN Việt Nam đã tặng BIDV nhiều danh hiệu và phần thưởng cao qúy: Huân chương Độc lập hạng Nhất, hạng Ba; Huân chương Lao động Nhất, hạng Nhì, hạng Ba; Danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới, Huân chương Hồ Chí Minh,… 12 2. Tóm tắt kết quả kinh doanh BIDV năm 2019: Hoạt động kinh doanh tích cực, nỗ lực hỗ trợ phát triển nền kinh tế Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) vừa công bố Báo cáo Tài chính Quý IV/2019.
Theo đó, đến hết 31/12/2019, tổng tài sản của BIDV đạt 1.105 tỷ đồng, tăng 13,5%, giữ vững vị thế là ngân hàng thương mại cổ phần có quy mô tài sản lớn nhất Việt Nam; BIDV cũng đã nộp Ngân sách Nhà nước 8.550 tỷ đồng, đứng trong top 10 doanh nghiệp nộp thuế thu nhập doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam. Về cơ cấu tài sản, dư nợ thuần cho vay khách hàng (đã giảm trừ dự phòng rủi ro) đạt 1.494 tỷ đồng, tăng 12,9% so với năm 2018, chiếm 74% tổng tài sản có. Tổng các khoản mục chứng khoán kinh doanh, chứng khoán đầu tư và góp vốn, đầu tư dài hạn đạt 147.214 tỷ đồng, tăng trưởng 8% so với năm 2018, chiếm 10% tổng tài sản có. Trong tổng tài sản hợp nhất, các công ty con đạt 54.618 tỷ đồng, chiếm 3,67% tổng tài sản hợp nhất.
Về chất lượng tín dụng, tỷ lệ nợ xấu hợp nhất giảm từ 1,93% năm 2018 xuống còn 1,78% năm 2019. Tỷ lệ nợ xấu của các công ty con cũng có xu hướng giảm. Về cơ cấu nguồn vốn, tiền gửi của khách hàng đạt 1.231 tỷ đồng, chiếm 74,8% tổng nguồn vốn, tăng 12,6% so với năm 2018. Phát hành giấy tờ có giá tăng ròng 22.781 tỷ đồng, chiếm 4,2% tổng nguồn vốn.
Các khoản nợ Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (bao gổm cả tiền gửi Kho bạc Nhà nước, tiền gửi của Bộ Tài chính, vay Ngân hàng Nhà nước) chiếm 7,3% tổng nguồn vốn, tăng ròng 3. Vốn và các quỹ đạt 77.766 tỷ đồng, chiếm 5,2% tổng nguồn vốn, tăng ròng 23.277 tỷ đồng so với năm 2018, trong đó tăng từ phát hành thành công cổ phiếu cho cổ đông chiến lược là: 20. Hoạt động bán lẻ tiếp tục dẫn đầu thị trường: Dư nợ tín dụng bán lẻ tăng trưởng 21,5% so với năm 2018, tỷ trọng đạt 34,1% tổng dư nợ (cải thiện 2,5% tỷ trọng so với đầu năm). Huy động vốn bán lẻ tăng trưởng 9,7% so với đầu năm, chiếm tỷ trọng 53,7% tổng huy động vốn.
13 Đơn vị: Tỷ đồng, % Kế hoạch 2019 31/12/2019 tạiNQ Đánh giá so TT Chỉ tiêu 2018 % so 395/2019/NQĐHĐ với Kế hoạch Tuyệt đối với CĐ 2018 1 Tổng tài sản 1.105 13,5% 2 Nguồn vốn huy động 1.758 12,1% Trong đó huy động vốn từ Phấn đấu tăng - 1.162 12,7% Vượt tổ chức, dân cư trưởng 11% Dư nợ tín dụng và đầu 3 1.667 7,1% tư Phấn đấu tăng trưởng Trong đó: Dư nợ tín 12%, đảm bảo tuân - 1.430 12,2% Đảm bảo dụng TCKT, cá nhân thủ kế hoạch NHNN giao trong từng thời kỳ (1) Tỷ lệ nợ xấu cho vay tổ chức, cá nhân / Tổng dư 4 1,9% < 2% 1,74% Đảm bảo nợ cho vay tổ chức, cá nhân 5 Lợi nhuận trước thuế 9.876 15,8% Vượt Không thấp hơn mức 6 Tỷ lệ chi trả cổ tức 7% 7% Đảm bảo thực hiện năm trước Hình 1.4 : Kết quả hoạt động kinh doanh của BIDV năm 2019 Ghi chú: (1) Giới hạn tín dụng của BIDV được điều chỉnh lên mức tối đa 13% theo Công văn số 10154/NHNN- CSTT ngày 26/12/2019 về tăng trưởng tín dụng năm 2019 14 Cơ cấu các khoản thu nhập có sự chuyển dịch dần theo hướng tăng tỷ trọng thu nhập phi lãi, cụ thể: (i) Thu nhập lãi thuần đạt 35.995 tỷ đồng, giảm tỷ lệ từ 78,5% năm 2018 xuống còn 74,7% năm 2019; (ii) Thu thuần từ hoạt động dịch vụ đạt 4.284 tỷ đồng, tăng trưởng 20,5% so với năm trước, gia tăng tỷ lệ đóng góp từ 8% (năm 2018) lên 8,9% (năm 2019);. (iii) Thu nhập ròng từ hoạt động kinh doanh ngoại hối đạt 1.495 tỷ đồng, tăng ròng 455 tỷ đồng, tương đương tăng trưởng 44% so với năm 2018 và chiếm 3,1% so với tổng thu nhập hoạt động. (iv) Thu từ hoạt động khác đạt 5.455 tỷ đồng, tăng 1.637 tỷ đồng so với năm 2018 (tăng 43%) và chiếm 11,3% so với tổng thu nhập hoạt động; (v) Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trước chi phí dự phòng rủi ro đạt 30. BIDV tăng cường trích lập dự phòng rủi ro trên cơ sở kết quả rà soát, phân loại nợ.
Lợi nhuận trước thuế của toàn hệ thống đạt 10.876 tỷ đồng, tăng 15,81% so với năm 2018, vượt chỉ tiêu kế hoạch theo Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông. Trong đó đóng góp của khối công ty vào lợi nhuận toàn hệ thống là 458 tỷ đồng. Hệ số ROE đạt 14,46%,; ROA đạt 0,62%. BIDV cũng đảm bảo lợi ích tối đa của cổ đông: thực hiện chi trả cổ tức 2 năm 2017-2018 bằng tiền mặt cho cổ đông với tổng giá trị gần 4.800 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ chi trả đạt 7%/năm.
Nhằm hỗ trợ phát triển nền kinh tế, trong năm 2019, BIDV đã 3 lần giảm mức trần lãi suất cho vay, đặc biệt hướng đến các lĩnh vực ưu tiên theo định hướng của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước; qua đó thể hiện vai trò, trách nhiệm của BIDV trong việc thực hiện chủ trương, chính sách điều hành của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước vì sự phát triển chung của đất nước. Thị giá cổ phiếu BID tăng trưởng 42,5% so với đầu năm; Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại BIDV tăng lên 18,03%; BIDV là ngân hàng có mức vốn hóa lớn thứ 3 trên thị trường, phản ánh kỳ vọng của nhà đầu tư vào tiềm năng phát triển của BIDV sau khi có sự tham gia cổ đông chiến lược KEB Hana Bank (Hàn Quốc). Đây là một dấu mốc quan trọng trong hành trình phát triển và hội nhập quốc tế của BIDV. Là thương vụ mua bán - sáp nhập (M&A) lớn nhất 15 trong ngành ngân hàng Việt Nam, giao dịch bán cổ phần chiến lược cho KEB Hana Bank Hàn Quốc với tổng giá trị gần 20.300 tỷ đồng, đã giúp BIDV tăng quy mô vốn điều lệ lên 40.220 tỷ đồng, lớn nhất trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam.
Và với năng lực tài chính được nâng cao, BIDV được Ngân hàng Nhà nước công nhận là một trong những Ngân hàng thương mại đủ điều kiện tuân thủ Thông tư 41 trước thời hạn. Và đặc biệt, với sự hợp tác, hỗ trợ chiến lược dài hạn của Tập đoàn Tài chính Hana, KEB Hana Bank, BIDV sẽ có cơ hội để thay đổi căn cơ mô thức quản trị, nâng cao năng lực quản trị điều hành; quản trị rủi ro; phát triển các sản phẩm dịch vụ hiện đại, hàm lượng công nghệ cao; tăng cường năng lực cạnh tranh, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu sản phẩm, tiện ích của khách hàng, góp phần xây dựng và phát triển đất nước… Trong năm 2019, BIDV tiếp tục nhận được nhiều giải thưởng trong nước và quốc tế: Top 2.