Phần mở đầu, 04 Chƣơng chính, Phần kết luận và kiến nghị, Danh mục công trình khoa học và Danh mục tài liệu tham khảo. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI, BỐI CẢNH HÌNH THÀNH QUAN ĐIỂM VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SAI LỆCH XÃ HỘI 1. Tổng quan nghiên cứu đề tài 1. Khái lược các quan điểm và lý thuyết về hành vi sai lệch.
Trong lịch sử khoa học tồn tại rất nhiều quan điểm, lý thuyết, cách tiếp cận với hành vi sai lệch. Việc nghiên cứu lịch sử hệ thống các quan điểm và lý thuyết sẽ giúp hiểu rõ sự hình thành, nội dung khái niệm, nguyên nhân của sai lệch và tích cực tìm kiếm những cơ chế thích hợp để ngăn ngừa và phòng chống chúng. Hành vi sai lệch cũng nhƣ tội phạm hình thành cùng với sự xuất hiện của xã hội loài ngƣời, song ở Thời kỳ nguyên thủy chƣa thể xuất hiện những tƣ tƣởng quan tâm đến những sai lệch và tội phạm, bởi một lẽ đơn giản con ngƣời đang ở thời kỳ sơ khai, mông muội, trí tuệ chƣa phát triển, nhận thức còn yếu kém, nên chƣa đủ sức nhận ra và phân biệt những hành vi lệch lạc, mặc dù, nhƣ đã nói ở trên, chúng vẫn tồn tại xung quanh con ngƣời. Nhiệm vụ chính của con ngƣời trong thời kỳ này là đấu tranh với thiên nhiên, với tự nhiên để sống, để tồn tại.
Có thể nói, sai lệch trong xã hội đƣợc xem xét và nghiên cứu cùng với sự xuất hiện của xã hội học. Tuy nhiên vấn đề này đã đƣợc các tác giả cổ điển quan tâm sớm hơn. Một số nhà nghiên cứu cho rằng xã hội học sinh ra từ trong lòng của triết học cổ điển, và trong điều khẳng định này xác định một sự thật. Các tác giả cổ điển đã bắt đầu phân tích một cách khoa học bản chất, nguồn gốc, các hình thái biểu hiện của của hiện tƣợng xã hội phức tạp này.
Thời cổ đại Hi Lạp hay 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com còn gọi Giai đoạn xã hội chiếm hữu nô lệ, lần đầu tiên trong lịch sử đã xuất hiện tƣ tƣởng đấu tranh với hành vi sai lệch và tội phạm của các nhà triết học cổ điển, mà đại diện tiêu biểu là Platon và Aristote, phản ánh qua lăng kính các quan thuyết triết học của họ. Cả hai nhà triết học đều coi tội phạm nhƣ là bệnh tật trong tâm linh của những ngƣời thực hiện hành vi đó, tội phạm nhƣ là bệnh tật của Nhà nƣớc. Và theo họ, chính Nhà nƣớc chứ không phải ai khác phải có trách nhiệm chữa trị bệnh tật này, bằng cách ban hành các đạo luật. Với những tƣ tƣởng liên quan đến tội phạm hai ông đƣợc coi là những ngƣời đặt nền tảng đầu tiên cho việc nghiên cứu những vấn đề đấu tranh với tội phạm và sai lệch trong xã hội.
Platon (427-347 trƣớc CN) – nhà triết học duy tâm khách quan, nổi tiếng với “Học thuyết về ý niệm”. Ông cho rằng, các đạo luật ban hành phải có tác động kiềm chế, khắc phục các nguyên nhân thúc đẩy các hành vi phạm tội. Platon cũng nói đến tƣ tƣởng về sự tác động tâm lý đối với đối với những ngƣời có thiên hƣớng phạm tội. Đặc biệt, Platon cho rằng trong đấu tranh với tội phạm cần phải nghĩ về tƣơng lai, chứ không phải về quá khứ.
Đây là tƣ tƣởng lớn về dự báo tội phạm mà trải qua hàng trăm năm sau mới đƣợc mọi ngƣời chú ý. Aristote (384 – 322 trƣớc CN) - nhà triết học Hi Lạp nổi tiếng, bộ óc bách khoa trong số các nhà tƣ tƣởng cổ đại Hi Lạp. Aristote cho rằng, cƣỡng chế về tâm lý có thể phòng ngừa đƣợc tội phạm, vì rằng đạo luật cần phải giúp cho tinh thần thống trị đƣợc thể xác và lý trí thống trị đƣợc bản tính. Aristote nhìn thấy một trong những nguyên nhân cơ bản của các hành vi sai lệch và tội phạm là thói quen và sở thích hƣ hỏng của con ngƣời mâu thuẫn với lý trí hoặc những ham mê, dục vọng khủng khiếp trội hơn lý trí.
Aristote từng phát biểu rằng, những điều bất hạnh là những kiểu hành vi đƣợc thực hiện không có chủ tâm độc ác và ý định xấu xa, những điều lầm lạc là những hành vi đƣợc thực hiện có ý thức, 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhƣng không phải là hậu quả của ý đồ độc ác, còn những hành vi sai trái đó là những hành vi diễn ra một cách chủ tâm và là hậu quả của sự lệch lạc. Quan điểm thần học–tôn giáo đối với hành vi lệch lạc là một phần không thể tách rời của thế giới quan tôn giáo thống trị vào Thời Trung kỷ. Chúa Trời và Ác quỷ là thể hiện của điều Thiện và điều Ác. Họ chống đối lẫn nhau và tuyệt đối không thể dung hòa với nhau.
Loại sai lệch chính yếu không thể tránh khỏi – là tà giáo, tà đạo, còn kẻ tội phạm nguy hiểm nhất – chính là kẻ tà đạo. Những ngƣời thuộc số này là những ngƣời không có niềm tin tôn giáo, không chia xẻ những quan điểm giáo điều cơ bản của Thiên chúa giáo. Tội lỗi của họ là phủ nhận thần thánh, xóa bỏ thần thánh ra khỏi tầng bậc đẳng cấp nhà thờ. Theo quan điểm này, ngƣời thiện đó là ngƣời có đạo, theo đạo, sùng đạo, tin đạo, còn ngƣời ác là kẻ vô đạo, ngoại đạo, không theo đạo.
Thời kỳ Phục Hƣng Thế kỷ XV gắn liền với tên tuổi của những nhà triết học chủ nghĩa xã hội không tƣởng, mà đại diện tiêu biểu là Tomas Moore, Robert Owen và Saint Simon. Những nhà xã hội không tƣởng, dù rất gần nhau trong quan điểm triết học, song đã có những quan điểm rất khác nhau, khi quan tâm đến các vấn đề tội phạm. Họ gắn tội phạm với những vấn đề liên quan đến đấu tranh giai cấp, kinh tế, giáo dục và môi trƣờng. Tomas Moore là ngƣời đầu tiên trong thời đại Phục Hƣng công khai công phẫn với với tình trạng nghèo khổ của quần chúng nhân dân lao động, và ông đi đến kết luận rằng để loại bỏ các nguyên nhân của tội phạm trƣớc hết cần phải cải tạo chế độ kinh tế của xã hội.
Saint Simon coi việc giáo dục đạo đức là một trong những biện pháp thủ tiêu tội phạm và các sai lệch trong xã hội. Còn Robert Owen kết luận rằng, không nên tìm kiếm các nguyên nhân của tội phạm ở chính cá nhân ngƣời phạm tội, mà nên 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tìm nguyên nhân ở chính môi trƣờng trong đó con ngƣời phạm tội đƣợc hình thành, sống và tồn tại. Sự thay đổi xã hội phong kiến thành xã hội công nghiệp, sự thay đổi thế giới quan tôn giáo bằng triết học, mỹ học, đạo đức của chủ nghĩa nhân văn và tri thức đã làm xuất hiện quan điểm duy lý về hành vi sai lệch. Các đại diện tiêu biểu Thời kỳ Kỷ nguyên Ánh sáng hay còn gọi Thời kỳ Triết học Ánh sáng của Chủ nghĩa Duy vật Pháp thế kỷ XVII - XVIII đã hình thành nên khái niệm tội phạm nhƣ là hành vi của ý chí tự do con ngƣời, mà không phải là trò chơi trong tay của “những thế lực cao cấp”, nhƣng là cá nhân hành động có ý thức và tự do trong hành vi của mình.
Với quan điểm này, tội phạm chỉ là kết quả tổng hợp ý chí độc ác của những kẻ tội phạm. Có hai nhà triết học – nhà khai sáng mà tên tuổi rất đƣợc chú ý khi dành sự quan tâm của mình đối với hành vi sai lệch và tội phạm – đó là Z. Trong các tác phẩm của mình Montesquieu đề cập đến tình hình tội phạm với tƣ cách là một hiện tƣợng cá biệt, còn Beccaria thì giành sự chú ý đặc biệt đến những vấn đề của tình hình tội phạm và hình phạt đối với tội phạm. Montesquieu là tác giả của tập luận văn triết học – pháp luật nổi tiếng “Về tinh thần của các đạo luật” đƣợc xuất bản vào giữa thế kỷ XVIII.
Một luận điểm nổi tiếng trong tác phẩm của ông đƣợc đƣa ra, là “nhà làm luật thông minh không hẳn chỉ quan tâm đến các hình phạt đối với các tội phạm, mà chủ yếu là quan tâm về việc phòng ngừa tội phạm” [77]. Một luận điểm có ý nghĩa to lớn của Montesquieu là tội phạm và hình phạt là những hiện tƣợng tƣơng đối, phản ánh các quan hệ xã hội và nội dung của chúng thƣờng xuyên đƣợc thay đổi tùy thuộc vào các thời đại và các xã hội khác nhau. Các quan điểm của C. Beccaria thông thƣờng đồng nhất với quan điểm của Montesquieu, khi ông đi đến kết luận rằng, “phòng ngừa tình hình tội phạm sẽ 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tốt hơn là trừng trị nó” [77].
Ông cho rằng biện pháp cơ bản của phòng ngừa tội phạm là hoàn thiện việc giáo dục, “giáo dục là biện pháp đúng đắn nhất, nhƣng cũng là khó khăn nhất” [77]. Với sự phát triển mạnh mẽ của các khoa học tự nhiên, quan điểm Sinh học và Nhân chủng học đã có những đóng góp của mình vào cách định nghĩa mới về sai lệch và tội phạm. Bác sĩ tâm thần và nhà tội phạm học ngƣời Italia Cesare Lombroso đã đƣa ra quan điểm về việc tồn tại một kiểu ngƣời đặc biệt, có khuynh hƣớng đến việc thực hiện tội phạm do có những dấu hiệu sinh học đƣợc xác định. Từ quan điểm của lý thuyết nhân chủng học, tội phạm đƣợc xác định nhƣ là tổng hợp của các tội lỗi đƣợc thực hiện bởi những ngƣời – những kẻ tội phạm bẩm sinh có khuynh hƣớng mang tính sinh học đối với việc thực hiện tội phạm.
Lombroso tuyên bố rằng, ngƣời ta không trở thành kẻ tội phạm, ngƣời ta sinh ra thành kẻ tội phạm. Kẻ tội phạm bẩm sinh dễ dàng phân biệt với những ngƣời khác theo dáng vẻ bên ngoài. Lombroso đã chỉ ra một loạt những dấu hiệu hình thể bên ngoài của kẻ tội phạm, những dấu hiệu, theo Lombroso, chỉ có ở “những kẻ tội phạm, những tên mọi rợ và loài khỉ đột”. Sheldon, nhà nhân chủng học ngƣời Mỹ, đã cố gắng tìm ra mối liên hệ giữa các hành vi cá nhân, trong đó có hành vi sai lệch và tội phạm, với các kiểu loại cơ thể (type of body) con ngƣời.
Ông đã chỉ ra một kiểu cơ thể cơ bản của con ngƣời - ông gọi là “mesomorph”, mà rất dễ có hành vi phạm tội.