phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn có cấu trúc sau: - Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thƣ̣c tiễn của đề tài nghiên cứu - Chƣơng 2: Một số biện pháp rèn luyện năng lực tự học truyện ngắn cho học sinh lớp12 THPT. - Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm. 8 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm tự học Tự học là một khái niệm mà ở Việt Nam đã có một số nhà nghiên cứu về giáo dục học đi sâu phân tích khái niệm này.
Trong Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới, tác giả Thái Duy Tuyên cho rằng: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học” [ 25, tr 48]. Còn theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp,.) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý chí muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”. [ 22, tr 34] Trên thế giới khái niệm tự học cũng đƣợc tập trung nghiên cứu từ cuối thế kỉ XX. Tác giả Candy (1987) đã xác định có ít nhất 30 khái niệm khác nhau đƣợc sử dụng đồng nghĩa với khái niệm tự học.
Tác giả này đã liệt kê ra tự học, học tập độc lập, ngƣời học tự kiểm soát, hƣớng dẫn bản thân, học tập phi truyền thống, học tập mở, tham gia học tập, tự học, tự giáo dục, học tập tự tổ chức, tự học theo kế hoạch, tự chịu trách nhiệm về việc học, tự học và tự dạy… Trong quá trình nghiên cứu về tự học, một số tác giả đi đến thống nhất: có hai phƣơng diện liên quan đến tự học đó là tính cách của ngƣời học và phƣơng pháp học tập. Đặc điểm tính cách hay "tính tự định hướng của người học" thuộc về bản 9 z chất của ngƣời học và là những đặc trƣng cá nhân cho phép họ thể hiện "mong muốn chịu trách nhiệm với việc học". Đây là đặc điểm bên trong. Phƣơng pháp học tập là một đặc điểm bên ngoài nói đến "một quá trình mà trong đó người học có vai trò chính trong việc lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá các trải nghiệm" (Brockett 11 & Hiemstra).
Với Brockett & Hiemstra, hai phƣơng diện này có mối quan hệ biện chứng và cùng nhau dẫn đến "tự học". Từ các quan niệm trên, chúng tôi cho rằng: tự học là một quá trình học tập độc lập, chủ động, tích cực của ngƣời học trong việc chiếm lĩnh tri thức khoa học, cũng nhƣ những kiến thức trong cuộc sống hằng ngày. Nó có thể đƣợc cá nhân ngƣời học tiến hành ở trên lớp hay ngoài lớp học. Các hình thức tự học - Tự học trong các cơ sở giáo dục: là hình thức tƣ̣ ho c̣ của HS diễn ra trong các cơ sở giáo du ̣c có sƣ̣ h ƣớng dẫn, tổ chƣ́c của GV theo kế hoa ̣ch giáo dục đã định sẵn.
- Tự học trong cuộc sống: là hình thức tự học đƣợc tiến hành ở bên ngoài các cơ sở giáo dục, diễn ra bấ t cƣ́ lúc nào, với bấ t cƣ́ ai có nhu cầ u ho ̣c tâ ̣p. - Tự học hoàn toàn: là hình thức tự nghiên cứu của các nhà khoa học , đƣơ ̣c tiế n hành dƣ̣a trên nề n tảng vố n tri thƣ́c sâu rô ̣ng cùng niề m khát khao , say mê khám phá tri thức mới. Ở hình thức tự học này, ngƣời ho ̣c tƣ̣ lƣ̣c tim ̀ hiể u , cọ xát với thực tiễn để tổ chức có hiệu quả hoạt động của mình. - Tự học có hƣớng dẫn: là hình thức tự học phổ biến của HS đƣợc tiến hành linh hoạt theo tƣ̀ng cấ p ho ̣c , tƣ̀ng loa ̣i hiǹ h trƣờng ho ̣c , tƣ̀ng đố i tƣơ ̣ng ; trong đó, HS tƣ̣ nghiên cƣ́u, tƣ̣ liñ h hô ̣i và vâ ̣n du ̣ng kiế n thƣ́c, kĩ năng thông qua các hoạt động tự học do GV tổ chức, hƣớng dẫn, điề u khiể n.
- Tự học không tƣơng tác: là hình thức học tập mà ngƣời học làm việc độc lâ ̣p, chủ động có hoặc không có sự hƣớng dẫn của GV. - Tự học trong tƣơng tác: là hình thức tự học mà ngƣời học kết hợp với những ngƣời khác trong ho ̣c tâ ̣p để nghiên cƣ́u , lĩnh hội và vận dụng kiến thức , kĩ năng; có hoặc không có sự hƣớng dẫn của GV. 10 z Nhƣ vậy với HS, hoạt động tự học chủ yếu liên quan đến các cơ sở giáo dục. Hoạt động này thƣờng kết hợp giữa học cá nhân với học hợp tác và là tự học có hƣớng dẫn của GV.
Chu trình tự học - Tự học là một chu trình gồm ba giai đoạn: Giai đoạn 1- Tự nghiên cứu: HS tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện vấn đề, định hƣớng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới và tạo ra sản phẩm ban đầu có tính chất cá nhân. Giai đoạn 2 - Tự thể hiện: HS tự thể hiện bằng văn bản, bằng lời nói, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu của mình, tự thể hiện qua sự đối thoại, giao tiếp với HS khác và GV, tạo ra sản phẩm có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học. Giai đoạn 3 - Tự kiểm tra, tự điều chỉnh: Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác trao đổi với các HS khác và GV; sau khi GV kết luận, HS tự kiểm tra, tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh thành sản phẩm khoa học. Tự nghiên cứu (1) Tự thể hiện (2) Tự kiểm tra điều chỉnh (3) Sơ đồ 1.
Chu trình tự học (theo Quá trình dạy – tự học, tr160) - Dƣới tác động của GV, hoạt động tự học của HS đƣợc tiến hành theo quy trình 3 thời nhằm đạt mục tiêu giáo dục nhƣ sau: 11 z Thời 1: Nghiên cứu cá nhân Theo hƣớng dẫn của GV, HS tự đặt mình vào vị trí của ngƣời tự nghiên cứu, tự tiến hành khám phá tìm ra các kiến thức mới hoặc các giải pháp bằng cách tự lực suy nghĩ, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề GV đặt ra cho mình Nhƣ vậy, sau thời 1 HS đã tự mình tìm ra cách xử lí tình huống, vấn đề GV đặt ra. Bằng hành động của chính mình, HS đã tạo ra sản phẩm giáo dục ban đầu. Thời 2: Hợp tác với HS khác, học lẫn nhau “Sản phẩm giáo dục ban đầu” có giá trị và ý nghĩa lớn với HS vì là kết quả đạt đƣợc do nỗ lực của bản thân song dễ mang tính phiến diện, chủ quan. Để trở nên khách quan, khoa học hơn, sản phẩm đó phải thông qua sự đánh giá, phân tích, sàng lọc, bổ sung của cộng đồng lớp học.
Nghĩa là HS phải tƣơng tác với HS khác thông qua hình thức trao đổi cá nhân, thảo luận nhóm – lớp, các hoạt động tập thể… Vậy ở thời 2 thông qua hợp tác với HS khác, sản phẩm ban đầu của HS đã tiến bộ hơn; song trong hoạt động và thảo luận tập thể xảy ra tình huống: cả lớp gặp phải những vấn đề nan giải, khó phân biệt đúng sai, khó đi đến kết luận khoa học. Lúc này, HS phải học GV và tự kiểm tra, điều chỉnh sản phẩm “nghiên cứu” của mình. Thời 3: Hợp tác với GV, học GV tự kiểm tra, tự điều chỉnh Thực ra, HS đã học GV từ thời 1 qua nhiệm vụ GV đặt ra và thời 2 qua sự tổ chức, đạo diễn cho tập thể lớp thảo luận. Ở thời 3, GV là ngƣời trọng tài kết luận về những gì cá nhân và tập thể lớp đã tìm ra thành bài học khoa học.
Xem xét quy trình 3 thời chúng ta thấy: thời nào cũng có vai trò và hoạt động của GV và HS. Quy trình trên cũng cho thấy rõ một điều: cả 3 thời đều diễn ra hành động học, tự học tích cực, chủ động của chủ thể HS dƣới sự hƣớng dẫn của GV để có đƣợc một sản phẩm khoa học, tiến bộ theo nhƣ mục tiêu đã đề ra. 12 z - Hoạt động dạy của GV nhằm tác động hợp lí, phù hợp và cộng hƣởng với quy trình tự học của HS. Tƣơng ứng với quy trình ba thời tự học của HS là quy trình ba thời dạy – tự học của GV.
Thời 1: Hướng dẫn – đạo diễn GV hƣớng dẫn HS về các tình huống học, các vấn đề cần giải quyết, các nhiệm vụ phải thực hiện Thời 2: Tổ chức – trọng tài GV tổ chức cho HS tự thể hiện mình và hợp tác với các HS khác, với GV để tìm ra kiến thức, chân lí. Ở thời này, GV là ngƣời đạo diễn, tổ chức. Thời 3: Cố vấn Từ chỗ đƣa ra kết luận để khẳng định về mặt khoa học kiến thức do HS tự tìm ra,GV trở thành ngƣời cố vấn, kiểm tra, đánh giá kết quả tự học của HS trên cơ sở HS tự đánh giá, tự điều chỉnh. Nhƣ vậy, rõ ràng quá trình tự học của HS trong nhà trƣờng không thể thiếu vai trò hƣớng dẫn, tổ chức, cố vấn của GV.
Và luôn có sự kết hợp giữa quy trình dạy – tự học của GV với quy trình tự học của HS qua từng thời để cho HS tự mình chiếm lĩnh tri thức. Vai trò và ý nghĩa của tự học Tƣ̣ ho ̣c là mô ̣t trong nhƣ̃ng yế u tố quyế t đinh ̣ chấ t lƣơ ̣ng giáo du ̣c. Để ta ̣o ra chấ t lƣơ ̣ng đó đòi hỏi nhiề u yế u tố trong đó có vấn đề tự học của mỗi HS. GV dù cố gắ ng đế n đâu nhƣng HS không đô ̣ng naõ , không tƣ̣ tim ̀ tòi , suy nghi ̃ trong quá trình lĩnh hô ̣i tri thƣ́c , rèn luyện năng lực thì kết quả học tập sẽ không thể đạt đƣợc nhƣ mong muốn.