CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.Lược sử nghiên cứu Trong nghiên cứu khoa học, các nhà khoa học xây dựng các tri thức khoa học dưới dạng ngôn ngữ (khái niệm, biểu thức, công thức, quy luật, định luật) trên cơ sở các hoạt động phát minh bắt nguồn bằng việc thu thập thông tin từ thế giới khách quan và được xử lý bằng các phương pháp khoa học đặc thù. Còn trong quá trình dạy học, trên cơ sở những thông tin thu được, người học sẽ khái quát hóa, trừu tượng hóa, mô hình hóa thông tin để ghi nhớ theo mô hình cụ thể. Điều đó có nghĩa là, hoạt động học tập của người học là quá trình tiếp nhận thông tin, tri thức khoa học để hình thành tri thức cá nhân. Những năm gần đây, phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh đã nâng cao được chất lượng dạy học, đặc biệt có ý nghĩa trong việc tạo hứng thú và nâng cao năng lực tư duy (phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa, khái quát hóa) cho người học.
Trong đó, sử dụng phương pháp rèn luyện cho học sinh kĩ năng diễn đạt nội dung kiến thức từ nghiên cứu sách giáo khoa để tổ chức hoạt động dạy học là một trong những phương pháp dạy học nhằm phát triển năng lực tự học, năng lực tư duy của học sinh. Trên thế giới Vào những năm 1920 ở Anh đã hình thành “Những nhà trường mới” trong đó đề ra mục tiêu là phát triển năng lực trí tuệ cho học sinh.Các biện pháp tổ chức hoạt động do học sinh chủ động thực hiện. Xu hướng này đã nhanh chóng lan rộng sang Mỹ và các nước Châu Âu khác. Vào nửa sau của những năm 1950, ở một số nước xã hội chủ nghĩa trước đây như Liên xô, Cộng hòa Dân chủ Đức, Ba Lan, Tiệp Khắc .v… đã có nhiều nhà nghiên cứu giáo dục nhận thấy phải tích cực hóa quá trình dạy học, phải có 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các biện pháp tổ chức học sinh hoạt động học tập tích cực để kiến thức được cung cấp không phải dưới dạng có sẵn.
Ông trình bày cách thức ghi nhớ tự nhiên của não bộ cùng các phương pháp Mind Map. Ngoài ra, Ông còn có một số sách nổi tiếng như Use your memory, Mind Map Book, Mind Map at work. Jeannette Vos - Gorden Dryden (1997), trong cuốn “Cách mạng học tập” đã đưa ra cách sử dụng lược đồ liên tưởng thay cho ghi chép bằng 3 điểm chính với 5 nguyên lý chính để đọc dữ liệu từ bản đồ Năm 1965, tại Liên Xô (cũ), A.Xokhor là người đầu tiên vận dụng một số quan điểm của lý thuyết grap (chủ yếu là những nguyên lý về việc xây dựng một grap có hướng) để mô hình hóa nội dung tài liệu giáo khoa (một khái niệm, một định luật …).Xokhor đã xây dựng được Grap của một kết luận hay lời giải thích cho một đề tài dạy học mà ông gọi là cấu trúc logic của kết luận hay lời giải thíchSau đó, các nhà khoa học khác như V.Poloxin đã mô tả trình tự các thao tác dạy học bằng Grap, V.Garkumop sử dụng Grap trong dạy học nêu vấn đề. Kodơlova (1978) với công trình: “Các biện pháp sư phạm để dạy học sinh cuối cấp về mối quan hệ giữa sự kiện và lí thuyết”.
Trong đó tác giảđã đưa ra một số kĩ thuật dạy học rèn cho học sinh năng lực tự học, khả năng khái quát hóa nội dung học tập. Mutazin (1989) với “Các phương pháp và hình thức dạy học Sinh học” Các kỹ năng khác được nhiều tác giả nghiên cứu như: K.Anaxtaxova trong “ Công tác độc lập của học sinh về Sinh học đại cương” – 1981, I.Kimanxcaia trong “Dạy học phát triển”-1982, G.Murtazin trong “Các 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phương pháp và hình thức dạy học Sinh học”- 1989, Kharlamop trong “Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào” – 1978. Ở Pháp, vào những năm 70 của thế kỉ XX trong các tàiliệu lí luận dạy học có chú ý khuyến khích dùng phương pháp Graph để luyện tính chủ động, tích cực cho học sinh từ bậc tiểu học đến bậc trung học. Ở Việt Nam Nhà khoa học đầu tiên chuyển Grap toán học thành Grap dạy học là Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang(1971).
Sau Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang có rất nhiều các tác giả như: Trần Trọng Dương, Phạm Thị Trinh Mai, Phạm Văn Tư ứng dụng grap trong dạy học Hóa học; Nguyễn Hà Giang, Nguyễn Trí Trung trong dạy học Lịch sử; Hoàng Việt Anh, Phạm Minh Tâm trong dạy học Địa lý. Để phát huy năng lực tư duy của học sinh còn có nhiều công trình nghiên cứu như: “Cải tiến phương pháp dạy học nhằm phát huy trí thông minh của học sinh” Nguyễn Hữu Tỳ (1971), Trần Bá Hoành: “Rèn trí thông minh của học sinh qua chương biến dị - di truyền”; “Giáo trình dạy học Sinh học” (1972, 1975, 1979, 1982, 1985, 1993); “Một số cơ sở lí thuyết của các phương hướng cải cách môn Sinh học phổ thông”; “Phát huy tính tích cực của học sinh trong chương trình Sinh học 12”, “Kiểm tra kiến thức bằng phiếu kiểm tra” Lê Nhân (1974). Trong dạy học Sinh học có các tác giả như: Nguyễn Như Ất( 1973), tại Liên Xô (cũ), trong công trình luận án Phó tiến sĩ khoa học sư phạm đã vận dụng lý thuyết graph kết hợp với phương pháp ma trận như một phương pháp hỗ trợ để xây dựng logic cấu trúc các khái niệm “tế bào học” trong nội dung giáo trình môn Sinh học đại cương trường phổ thông của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa do tác giả kiến nghị [1], Tác giả Đinh Quang Báo có những nghiên cứu về: “Phát triển hoạt động nhận thức của học sinh trong các bài Sinh học ở trường phổ thông Việt Nam”; “Dạy học Sinh học ở trường phổ thông theo hướng hoạt 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động hóa người học”. Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành: “Lí luận dạy học Sinh học” Nxb GD, 1996.
Nguyễn Phúc Chỉnh trong luận án Tiến sỹ(ĐHSP- 2005); Trần Hoàng Xuân, Hồ Thị Hồng Vân sử dụng ngôn ngữ bảng; Võ Thị Bích Thủy “Các biện pháp rèn luyện cho học sinh kỹ năng diễn đạt nội dung trong quá trình tổ chức hoạt động tự lực nghiên cứu sách giáo khoa Sinh học 11”,biện pháp diễn đạt nội dung ở các mức độ khác nhau được đề cập đến trong bài giảng của Giáo sư.Tiến sỹ Đinh Quang Báo. Đối với nỗ lực đổi mới nghiên cứu, tổ chức dạy và học của ngành giáo dục trong nhiều năm gần đây, một lãnh đạo Quốc hội và Hội đồng khoa học của Quốc hội đã nói: “Tôi đánh giá cao nỗ lực của nhiều cán bộ nghiên cứu, giáo viên trong việc tiếp cận, chủ động nghiên cứu và ứng dụng các phương pháp tư duy hiện đại trên thế giới vào thực tiễn nước ta. Điều này cho thấy con người Việt Nam, trí tuệ Việt Nam rất đáng khâm phục, hoàn toàn có thể kế thừa, tiếp thu, làm chủ các tri thức mới và tinh hoa của nhân loại. Điều cần làm phía trước là làm sao nhân rộng các phương pháp mới, để nó không chỉ là các sản phẩm mang tính bí quyết của một vài cá nhân mà phải góp phần xây dựng và hình thành các thế hệ học trò - con người mới cho đất nước”.
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học trong giai đoạn hiện nay là phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của người học; bồi dưỡng phương pháp tự học; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; hình thành thái độ tình cảm hứng thú học tập cho học sinh Để kịp thời tiếp cận với sự đổi mới chương trình sách giáo khoa và phương pháp dạy học hiện nay thì việc tăng cường năng lực tự học cho học sinh nói chung và rèn luyện kỹ năng diễn đạt kiến thức nói riêng là một yếu tố quan trọng giúp cho học sinh có thể dễ dàng trong việc chiếm lĩnh kiến thức, tự đọc, tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của mình. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Dạy cách học 1. Quan niệm về học Theo quan niệm dạy học truyền thống thì học là quá trình chiếm lĩnh, ứng dụng hay sử dụng kiến thức hoặc học là ghi nhớ, lặp lại, thuộc lòng. Hiện nay, do yêu cầu phát triển của xã hội dẫn đến mục tiêu giáo dục là tạo ra những con người năng động sáng tạo, có năng lực giải quyết vấn đề.
Cơ sở để hình thành, phát triển giáo dục là người học, là việc học. Vì vậy giải quyết vấn đề giáo dục là giải quyết vấn đề học mà nội dung cơ bản là mục đích học, nội dung học, phương pháp học, quản lý việc học, đánh giá việc học, cơ sở vật chất phục vụ việc học. Mặt khác, đối tượng của giáo dục là người học, người học là người với năng lực cá nhân của mình tham gia vào việc tìm ra kiến thức mới cho mình. Người học là người đi tìm cách học và tìm cách hiểu vì vậy nếu người học không có đủ nỗ lực bản thân để tự học, tự biến đổi mình thì mục tiêu đào tạo không thể thành hiện thực.
Ngược lại, bản thân cố gắng tự học thì dù điều kiện học chưa đầy đủ vẫn có thể từng bước hình thành năng lực mới, phẩm chất mới. Bác Hồ đã dạy: “Cách học tập phải lấy tự học làm cốt”. Việc học của mỗi người không phải chỉ diễn ra khi đến trường mà việc học diễn ra suốt đời với mục đích học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để làm người. Từ những điều trình bày trên có thể khái quát lại quan niệm về học ngày nay là: “Học là một quá trình trong đó chủ thể tự biến đổi mình, tự làm phong phú mình bằng cách thu lượm và xử lý thông tin từ môi trường sống xung quanh mình.”[4] 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Quan niệm về dạy Có nhiều quan niệm khác nhau về dạy. Nhìn chung hiện nay đang song song tồn tại hai quan niệm về dạy [4]. Dạy theo kiểu truyền đạt một chiều từ thầy đến trò: thầy trình bày nội dung môn học một cách đầy đủ, rõ ràng, mạch lạc và theo lôgic của môn học, trò tiếp thu ghi nhớ, ít có sự tìm tòi, sáng tạo. Dạy theo kiểu hợp tác hai chiều: Từ kiến thức, kỹ năng đã có của trò thầy giúp đỡ trò phát triển kiến thức, kỹ năng nhất là kỹ năng giải quyết vấn đề và khả năng tư duy sáng tạo, làm cho lớp học định hướng vào hoạt động nhóm.